Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Ăn – chơi Tết Huế

Bánh chưng, bánh tét, mứt gừng, dưa món hay hoàng mai, hoa giấy đều là những món ăn, chơi có nguồn gốc dân dã; nhưng qua bàn tay khéo léo tạo tác của các nghệ nhân Huế trở thành phong vị Tết đặc trưng của miền đất hoài cổ này.

Bánh cộ

Xuan-2019--Anh-minh-hoa---An-choi-Tet-Hue---Anh-7

Bánh cộ (cỗ) của người Huế không phải là thứ bánh ngọt mua về để ăn, mà nó được trưng bày trang trọng suốt tháng Giêng, trên bàn thờ tổ tiên, thờ Phật ngày Tết. Chỉ cần nhìn thấy màu sắc của nó ta đã thấy sự trang nghiêm: ngũ sắc (đỏ, xanh, lục, vàng, tím), ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ). Bột làm bánh này lấy từ gạo, nếp, đậu xanh, bình tinh. Xưa kia giấy gói bánh là giấy bản, phẩm màu để nhuộm giấy gói bánh đều được làm thủ công, chiết xuất từ củ nghệ, lá cây, trái cây. Sự tinh khiết của bánh cộ được đặt lên trên cái ngon của món ăn này. Một số gia đình muốn tự làm món bánh này dâng cúng tổ tiên. Từ tháng Chạp, các chợ đều có bán sẵn bột nếp, giấy gói, khuôn đúc đồng.

Hoàng mai

Xuan-2019--Anh-minh-hoa---An-choi-Tet-Hue---Anh-8

Luôn được người Huế trân trọng, thời nào cũng có giá, cây càng thêm tuổi càng đắt. Sau những cái Tết cách đây gần 10 năm (2010), nó bị cây lộc vừng, sung già “soán ngôi”, thì nay mai vàng đã trở lại giá trị minh chứng “đẳng cấp” mới là mãi mãi. Tết đến, người giàu có thì mua chậu mai vàng hàng trăm triệu đồng, người bình dân thì chọn cho mình chậu hoa vài triệu đồng, chí ít cũng mua cho được cành mai vàng bán lẻ khoảng vài trăm ngàn đồng để cắm trong độc bình. Những năm khó khăn bao cấp, trong chợ hoa Tết có người đi bán lẻ từng cành hoa mai vàng. Gần đây chỉ thấy bán nguyên cây đã vào chậu lớn giá rất cao.

Hoa giấy Thanh Tiên

Xuan-2019--Anh-minh-hoa---An-choi-Tet-Hue---Anh-3

Không phải là loài hoa cao sang, vương giả, nhưng khi thấy nó xuất hiện người ta biết Tết đã cận kề, đó là hoa giấy làng Thanh Tiên. Người làm hoa giấy ở làng Thanh Tiên (xã Phú Mậu, Phú Vang, Thừa Thiên – Huế) nay không còn nhiều, khoảng vài chục hộ, nhưng số người mang hoa đi bán dạo lại đông hơn, đủ mọi lứa tuổi, kiếm tiền công ăn Tết. Khoảng 5 năm trở lại đây, hoa giấy Thanh Tiên đánh bại các loại hoa “giả” trong nước cũng như nước ngoài, số lượng tiêu thụ hoa tăng gấp 5 lần, giá cả cũng tăng gấp đôi, gấp ba (khoảng 15.000 – 20.000 đồng/cặp). Nói về hoa “giả” ngày Tết, bây giờ người Huế chỉ ưa chuộng hoa giấy thủ công truyền thống Thanh Tiên.

Mứt gừng

Xuan-2019--Anh-minh-hoa---An-choi-Tet-Hue---Anh-9

Trong vô số loại bánh mứt trên thị trường Tết, mứt gừng chiếm ngôi vị độc tôn, không thể thiếu. Không phải ai cũng có khẩu vị ưa thích ăn nó, nhưng mứt gừng lại cần thiết (mứt gừng đi đôi với trà ngon) để dâng lễ “cúng trà” trên bàn thờ tổ tiên. Tháng Chạp, các chợ Huế đều có bán gừng đã xắt lát mỏng để làm mứt. Mua về, các bà nội trợ chỉ mất khoảng 2 giờ ngào đường là được vài cân mứt gừng tinh khiết, vừa ý. Mứt gừng Huế có vị thơm, cay hơn các loại mứt khác vì được chế biến từ củ gừng làng Tuần, Phong Sơn, trồng ở vùng đất đồi pha sỏi phía tây bắc thành phố Huế. Mứt gừng đẹp, lát mỏng, vừa đường, làm trắng bằng chanh và quất, không màu, không phẩm, không chất bảo quản. Đặc biệt được làm thủ công nên giữ được vị truyền thống.

Dưa món

Xuan-2019--Anh-minh-hoa---An-choi-Tet-Hue---Anh-10

Ngày nay ê hề dưa món đóng hộp bán sẵn trong siêu thị, ngoài chợ. Nhưng hầu hết mọi gia đình Huế đều muốn tự làm. Trước hết vì sự ngọt, mặn của dưa món làm bán đại trà không thích hợp với khẩu vị, nêm nếm cá nhân. Thứ hai, trong dưa món bán sẵn đu đủ, kiệu, cà rốt, ớt trái thường chưa đủ độ chín (khô) nên để trong tủ lạnh vài ngày sinh mùi hăng khó chịu. Dưa món là món ăn không thể thiếu vào ngày Tết Nguyên đán của người Huế, để không ngán thịt mỡ. Làm dưa món cần thời gian phơi rau củ và ngâm trước Tết một tuần. Cách làm dưa món tuy đơn giản nhưng cần phải lựa chọn nguyên liệu, pha nước mắm mặn ngọt vừa phải. Dưa món có thể ăn kèm với chả, bánh chưng, bánh tét.

Bánh chưng, bánh tét

Xuan-2019--Anh-minh-hoa---An-choi-Tet-Hue---Anh-6

Bánh chưng, bánh tét độc đáo, sáng tạo, đậm đà bản sắc dân tộc ở những vật liệu và cách gói, cách nấu, cách ăn. Độc đáo hơn nữa, khi nấu bánh chưng, người Việt dành trọn một thời gian khá dài thường trên 10 tiếng, phải để lửa sôi âm ỉ, như thế bánh mới rền, mới ngon. Nấu bằng củi khô tốt nhất. Gói bánh phải vừa xanh, vừa đẹp, thật kín, sợi lạt phải buộc thật chắc. Có lẽ vì cách nấu là “chưng” rất lâu nên mới gọi là bánh chưng. Khi ăn dùng sợi chỉ “tét” ra từng lát nên gọi là bánh tét. Những sự cải biên sau này bổ sung thêm nhiều nguyên liệu như phẩm màu (bánh ngũ sắc), gấc (màu đỏ), lá cẩm, chùm ngây đều không được người Huế ưa chuộng như bánh tét truyền thống.

Vũ Hào
(Thừa Thiên – Huế)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2019

Ý Kiến bạn đọc