Truyện ngắn

Ấm hương

Chiều nay về quê qua đầm sen tàn lơ phơ cọng, lá sen úa khô xạc xào gió bấc. Hiu hắt chơi vơi, anh nhìn làn khói mờ thoảng nhẹ mặt nước. Con thuyền thúng đứt neo lênh đênh tư lự trên màn nước bạc. Anh dừng xe bồi hồi nhìn con thuyền mà nhớ dáng sen chèo thuyền hôm nào đến nao lòng. Từ mùa sen ấy anh theo gió bụi kinh kỳ mê mải theo dòng đời, rồi ở lại Hà thành mà thưa hẳn về quê. Anh cũng đã quên những mùa sen có người con gái khỏa mái chèo giữa sắc hương ngắt sen về ủ trà cho cha, thường ngước lên bẽn lẽn nhìn bóng anh đi học qua đầm làng. Người ấy thường xấu hổ dúi vào tay anh gói xôi hạt sen bọc trong lá sen thơm ngát đêm học khuya. Rồi ngại ngùng sợ sệt chạy qua cái ngõ nhỏ hun hút mà đẫm hương cau, lập loè đom đóm. Anh mải miết theo cánh gió lang thang, mơ giấc công danh, rồi ngậm ngùi nghe tin ai kia đã theo chồng về bến lạ. Phận bồ liễu mười hai bến nước, đò đầy nàng phải sang sông, nhưng giấc mơ về những ấm trà trong sương lạnh, bàn tay ngọc tỏa khói mỗi bình minh thì vẫn rưng rưng trong lòng anh như một hoài niệm đẫm hương. Hình ảnh những chiếc ấm cổ, hương trà, lời giảng giải của cha nàng về ấm như một thế giới huyền bí cứ đeo bám anh đến suốt cuộc đời. Hình như cái duyên tao nhã ấy giờ lại ngấm vào máu anh mới lạ chứ!

Anh quên sao được buổi sáng đầu đông se lạnh. Nắng hồng má gái chưa chồng, hồng đỏ mọng thắp đèn lồng giữa trời đông. Bưởi đào chín loang hương trong không gian dịu ngọt. Dưới ánh nắng hanh hanh là chiếc chiếu cạp điều trải trên sân gạch, ông già râu tóc bạc phơ đang ngồi tắm nắng cùng lũ ấm cổ xếp quanh. Đôi mắt đượm buồn nhìn từng chiếc ấm một cách chăm chú rồi thở dài. Cảm giác như nước thời gian đang sống dậy trong lòng ông. Ngước đôi mắt mệt mỏi, ông săm soi từng hình ấm, nâng niu trên tay như một bảo vật vô giá. Cảm giác ông đang hứng từng giọt nắng đông để tắm táp cho lũ ấm cổ của mình. Nhìn thấy anh bước vào ông chậm rãi:

- Cậu tới chơi lạ thế? Hôm nay không đến trường ư?

Âm sắc rề rà của người miền trong, chiếc khăn lụa trắng quấn quanh cổ, búi tóc củ hành bạc phơ khiến anh rờn rợn. Có cái gì bí ẩn đang dâng lên trong lòng anh. Đôi mắt của ông âm u như người xứ Chàm. Nét Chăm Pa cổ vẫn còn nguyên trong ánh nhìn hoang hoải vời xa. Dáng ông ngồi xếp tròn trên chiếu, tay vo vo ấm khiến anh liên tưởng tới người thợ làm gốm trong vương quốc Chế Bồng Nga mà anh đã đọc trong dã sử. Thấy anh lúng túng nhìn ấm ông nở nụ cười hiền, rồi gọi con gái:

- Có cậu gì tới chơi này. Con xem vườn nhà có gì hái cho cậu ăn nghe.

Xuan-2019--Anh-minh-hoa---Am-huong---Anh-1

Nàng lúng túng nhìn anh rồi ra vườn bẻ rổ ổi găng vàng mượt, hái trái bưởi đào cùng đĩa muối ớt bày cả ra chiếc bàn trúc trên hiên. Ông lựa một chiếc ấm xinh nhỏ, sắc nâu mịn trên tay. Chiếc ấm hình quả lê đẹp tựa bầu nhũ hoa bầu bĩnh, phong mãn của thiếu nữ. Anh nhanh tay đỡ ấm trà, bàn tay gầy guộc gạt anh ra cùng cái lắc đầu khiến anh bỡ ngỡ:

- Ấy chết, đây là cái độc ẩm quý hiếm ta chỉ dùng cho một người mà thôi, cậu không nhẹ tay e vỡ thì phí lắm. Để ta kêu con bé pha trà mời cậu.

Giọng miền trong rề rà khàn đục: “Thế nhất Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”. Tôi thích cái ấm này. Cậu có biết mỹ nhân Tây Thi làm đắm say, si dại Ngô Phù Sai không? Nàng đó. Ông chỉ vào cái ấm trên tay tròn xinh. Tôi dám cá rằng cả phủ Thiên Trường, mấy ai còn giữ được loại ấm này đâu?

Ông lại thở dài xót xa cho mối tình của Phạm Lãi – Tây Thi. Lời ông thoảng trong gió lạnh, anh được rõ chiếc ấm Tây Thi, được tạo ra từ thứ đất Tử Sa huyền bí, tạo dáng theo một hình khối đặc biệt. Núm nắp tựa nhũ đầu của một người con gái đương thì, vòi ấm ngắn xinh xinh, quai ấm tròn trịa… Tử Sa Tây Thi nếu được nâng niu, yêu chiều trong vị trà sẽ càng nhuận tay người dùng, sáng bóng và tươi tỉnh. Ấm Tây Thi như một biểu tượng về tình yêu đắm say. Trà được pha trong ấm Tây Thi thơm đậm, nồng nàn, bởi sự giữ nhiệt và lưu hương.

Đôi bàn tay gầy guộc của ông lão lại nâng lên một cái ấm khác. Ông cất giọng khàn chậm đọc một câu thơ “Nhất ấm ngàn vàng mấy ai có được”, giọng ông đều đều giảng về chiếc ấm Chuyết Chỉ, được tạo hình không cầu kỳ, nhưng khiến đến sự liên tưởng về những bao la đất trời. Âm mang dáng dấp của Thiền hạnh, tỏa ra tính bao dung của Địa mẫu.

Trong nắng đông hanh vàng, ông cứ ngồi đấy kể về các loại ấm Long Đán, Tiêu Anh, Phan Hồ… Nhưng đặc biệt hơn khi ông nói về ấm Trâu Bàn, về nhân vật Man Sinh thích làm thơ đêm. Đêm buông xuống trong mà sương khói bảng lảng, chàng múa quyền như tuyết rơi, lá rụng rồi thưởng trà tĩnh tâm. Ấm thân tròn, mềm mại hiện ra trước mắt, khiến cậu học trò chưa đỗ đạt là anh thích thú…

Âm qua câu chuyện ông kể lung linh như huyền thoại. Không chỉ con gái ông xinh, mà lời dẫn chuyện của ông đã bỏ bùa anh khiến bước chân anh luôn quẩn ngõ nhà ông những ngày nghỉ học. Hoa sen rực thắm giờ tàn phai ở kiếp khác. Sen xạc xào đón gió đông về, cũng là lúc anh xa vườn xưa ngõ nhỏ, xa người con gái anh thầm thương, xa câu chuyện của ông già Tháp Chàm mê ấm, trôi tới Sơn Nam Hạ bán gốm phải lòng cô gái Thiên Trường mà ở lại xứ người làm rể.

Uống trà thưởng hoa, làm thơ là niềm vui vi diệu ở cõi đời. Thú tao nhã từ ngàn xưa, nay vẫn ở trong ông. Chẳng phải một sớm mai giá lạnh, cụ đồ nho sai tiểu đồng quạt hỏa lò, đun nước sôi, xúc ấm pha một ấm trà trong khói sương để ngâm một câu Đường thi: “Bình minh nhất trản trà… Lương y bất đáo gia”. Thú uống trà của tao nhân mặc khách đã tạo nét an nhiên tự tại của tâm hồn. Vẻ đẹp đó đang được duy trì và nâng lên thành dư vị mỹ cảm của người Việt.

Sau này bôn ba chốn kinh kỳ anh đã gặp ông họa sỹ mê ấm chẳng khác người xưa. Chiều Hồ Tây mênh mang khói phủ, lá vàng rụng lả tả, lũ cá khát mồi hớp hớp chiếc lá vừa rơi. Ông họa sỹ đã qua thời binh lửa, lấy trong túi lính lúc nào cũng đeo bên mình ra chiếc ấm cũ kỹ mà đẹp đến vô cùng rồi thở dài: Nước lửa ba sinh cuộc đời quả là vô thường. Anh háo hức nhìn chiếc ấm, ông bấm đốt ngón tay nhìn ra khói sóng rồi buông lời: Trò tuổi Mậu Ngọ, mệnh hỏa – Thiên Thượng Hỏa, lửa mặt trời nhưng cũng có lửa âm, lửa mặt trăng. Tuổi này đa tình, đam mê nóng bỏng, giàu nhiệt huyết, cảm xúc thường trỗi dậy mãnh liệt trong những mùa trăng. Cảm xúc nóng ấm là thổ nên trò say mê ấm cũng đúng thôi. Hỏa sinh thổ, lửa luyện đất mà ra ấm. Thổ cần thủy để phối ngẫu, hòa hợp tạo ra thứ nước không men mà vẫn đắm say bờ môi, đắm đuối bao tao nhân mặc khách. Khí thai sinh ra ấm nên cần thủy để phối với trà vì trà cũng là mộc. Thủy thổ tuy khắc nhưng theo triết lí âm dương quy luận vận hành của trời đất phải như thế mới tạo ra sự sống, tạo sự trường tồn linh diệu của cuộc đời, ấm và nước cũng thế. Duyên đó chẳng có kém gì duyên phu thê.

Ông nói nhiều lắm nhưng anh chỉ nhớ cách miêu tả của ông về các loại ấm hình dáng thiên biến vạn hóa, cái tao nhã tròn xinh, cái cổ quái kì dị mà ẩn hiện muôn sắc màu, mang dáng dấp tiềm ẩn văn hóa bao đời. Ông nói về ấm say sưa như một nhà hiền triền giảng cho học trò. Nói về các thứ đất Tử Sa: Hồng Sa, Lục Sa, Đoàn Sa… đó là những loại đất sinh ra từ những vỉa đá cứng, nhưng lại ngoan ngoãn, mềm mại dưới bàn tay và trái tim của nghệ nhân, để sinh ra hình hài ấm quý, lưu truyền cho bao đời sau. Anh ngơ ngẩn trước những điều diễn giải huyền vi của ông về ấm.

Ông họa sỹ kinh kỳ tưới rượu vào hoa, thổi vào anh những phút thăng hoa bên ấm trà trong sương lạnh. Ông mê vẽ sen và ngựa, ông chiêm nghiệm cuộc đời qua những kiếp sen tàn. Tàn lụi và thoát sinh bay lên tươi mới. Anh cứ ước ao một mai kia ông cũng say mê vẽ những ấm trà cổ để thời gian và văn hóa sẽ lưu giữ qua những bức họa của ông. Nhấp chén trà thơm tản mạn luận đàm về bộ ấm trà cổ cũng thấy mang mang trong lòng một hoài niệm về văn hóa cổ kim, cũng thấy hồn tiêu dao biết bao nhiêu.

Có ấm đẹp thì cũng phải có trà ngon mới là sự hòa hợp nâng niu viên mãn. Sự bù đắp ấy đã làm cho văn hóa trà bước lên tầm cao của văn hóa. Nhấp một ngụm trà ta đọc được phông văn hóa của người đối ấm. Trà là một nghi lễ sang trọng tao nhã đến vi diệu, chẳng thế mà người ta tôn sùng nâng trà lên như một thứ đạo. Anh chẳng thể nào quên được cái lần anh qua xưởng vẽ để vấn an ông họa sỹ mới kinh lí thật xa trở về. Ông chậm rãi pha trà và giảng cho học trò yêu của mình những nguyên lý tinh tế về trà. Trò phải nhớ rằng:

- Trà có tuổi, có tướng mạo, có kim mộc thủy hỏa thổ vây quanh, có sắc màu, hương vị và khí phách đẳng cấp khác nhau. Chả thế mà người ta còn đặt ra là: bỏ trà là ngọc diệu hồi cung, tráng trà là cao sơn trường thủy, pha trà là sơn nhập thủy, nhấp chén trà lên phải khoan thai cảm giác như nhập hồn sông núi.

Ông cười hiền trao cho trò yêu chén trà ấm trên tay. Anh nhẹ nhàng cung kính đặt trên tay như một nghi lễ. Người ta có thể yêu nước trinh nữ thanh tao thơm ngát của thứ trà móc câu bạch tuyết nước trắng như sương, nhưng cũng có kẻ yêu nước thiếu phụ đầm đậm nhấp vào thấy ngọt nơi cổ họng, uống vào rồi cũng khó có thể quên. Mấy ai hưởng tới nước phu cày nữa chứ! Trảm mã trà có lẽ chỉ sống trong những câu chuyện đầy màu hiệp khách, Thiết Quan Âm trà thơm ngát như sen mà đượm vị thiền… Trà đã trở thành tiêu dao như khí tiết thanh cao của tao nhân mặc khách: “Thắp hương trước án bên mai lũy/ Quét tuyết pha trà trước trúc hiên” trong thơ Nguyễn Trãi. Hương của trà đượm lòng ấm qua nước sôi lửa bỏng tỏa hương… Lòng cũng thắp lửa theo.

Đâu chỉ có mỹ tửu, sóng mắt giai nhân chất ngất những đêm hoa tửu, mà ấm trà hương cũng làm bồi hồi lòng lữ khách lúc nguyệt lặn sao mờ. Bước chân phiêu bồng lãng tử của anh đã đặt chân lên tận cao nguyên đá, dưới ánh lửa bập bùng, gò má sơn nữ hồng rực lên, đôi bàn tay lấp lánh vòng bạc khéo léo đảo những búp chè được hái trên núi tuyết. Hương trà ngan ngát quyện trong gió núi làm anh bâng khuâng. Nhìn người con gái nơi xứ lạ anh lại nhớ nao lòng người xưa ở phủ Thiên Trường. Người ấy chắc giờ đã con bồng con bế, có còn nhớ đêm sương anh vùi đầu vào suối tóc mây ngát hương sen bên bờ ao ngày ấy. Anh nhớ mái tóc trắng như cước, nhớ lũ ấm cổ thiu ngủ trong nắng đông… Nhớ giọng nói rề rà đầy ân tình của ông già xứ Chàm biết bao nhiêu.

Chiều nay về lại quê nhà sau bao ngày biền biệt, anh bùi ngùi nhìn dáng mẹ trầm tư trên bộ kỷ đã ngả màu. Như nhớ ra điều gì mẹ chạy vào buồng và cầm ra gói bọc lá sen, buộc rơm nếp cẩn thận. Giọng mẹ xa vắng:

- Con bé biết con về nó gửi trà ướp sen cho con. Con có uống không để mẹ lấy cái ấm nó gửi cho con lâu lắm rồi… Cái ngày nó nhận trầu cau nhà người ta.

Anh bàng hoàng không tin được dù đó là sự thật. Trên tay anh chiếc ấm đẹp như quả tuyết lê. Nhìn chiếc ấm lòng anh lại bồi hồi nhớ người xưa. Chiếc ấm cổ già đi theo thời gian nhưng men của nó vẫn còn óng mịn… Thương nhớ lại ùa về cồn đắng tim anh.

Sương khuya lạnh, anh nâng niu chén trà hương trên tay. Hương trà thơm ngát. Chiếc ấm hương vẫn tỏa khói, nước trinh nữ nhắc nhở xa xôi trong lòng anh. Có gì thao thiết làm anh nhớ đến cồn cào những ngày xưa dấu yêu… Anh lặng lẽ nâng chén trà hương ấm trên tay đến gần cây đào bạch dang chúm chím góc sân đợt xuân mới sắp về. Và anh biết đêm nay mình mất ngủ.

Ngày 27/11/2018

Lê Hà Ngân
(Giáo viên Trường THCS Hải Hà – Nam Định)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2019

Ý Kiến bạn đọc