Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Ải Nam Quan và sự thật chuyện “Cộng sản Việt Nam dâng đất cho Trung Quốc”

Chiều mưa biên giới anh đi về đâu
Biên giới nào?

Thiệt tình, với Hoàng tôi, biên giới nào thì cũng thế thôi. Bởi lý cho đến bây giờ Hoàng tôi chỉ thực sự thấy tận mắt hai cái-gọi-là-biên-giới. Thứ nhất, cầu Hiền Lương trên sông Bến Hải do Hiệp định Genève 1954 chọn làm mốc tạm phân chia Nam – Bắc. Thứ hai, lằn mức sóng nước bao la vô hình trên Vịnh Thái Lan khi người tài công chiếc ghe vượt biên chặt cổ con gà thắp hương cúng trước mũi ghe rồi hân hoan bảo: Yên chí! Ghe đã vào hải phận quốc tế! Hoàng tôi đâu biết “hải phận quốc tế” chính là lằn ranh của một thế giới mới trong đó Hoàng tôi rồi ra có thể chỉ là một “con thú hoang lạc đàn” như Nam Lộc nghẹn ngào thở than trong bản nhạc Sài Gòn Vĩnh Biệt.

Học trò Việt Nam ai mà chẳng “tụng”: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” và “Đất nước ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau”. Chẳng đứa nào thèm băn khoăn biên giới phía Bắc của Nam quốc đó lên tận đâu? Thời khuyết sử biên giới đó hình như lên đến tận Triết Giang hay Hồ Nam có đúng không? Lý Thường Kiệt và Quang Trung dựa vào bản đồ nào mà chuẩn bị đòi lại Quảng Đông Quảng Tây?

Hoàng tôi lơ mơ về chuyện biên giới vì nhiều lý do. Thứ nhất, vì lơ mơ về lịch sử và công pháp quốc tế. Hiểu biết về biên giới chung quy đều do ký ức tập thể, lịch sử truyền miệng, sách báo rất lưa thưa mơ màng… Thứ hai, trong thời đại Internet, Star Wars, MAD (mutual assured destruction – bảo đảm chết chùm), WMD (weapons of mass destrucion – chết cả đám), Jihad-Mujaheddeen và toàn cầu hóa kinh tế tài chính này, biên giới trên bộ trên biển có thể đang trở thành lỗi thời lạc điệu. Thật vậy, biên giới nào – ngay cả một hàng rào điện tử kiểu hàng rào McNamara ngày trước, có thể ngăn chận được những bom vi khuẩn phá computer, những tay cướp cạn toàn cầu trong đại công ty ENRON, hay những kẻ liều mạng gây ra vụ 11.9 ở Mỹ? Thứ ba, vì sơn hà quê hương vốn là chuyện có thể nhạy cảm, cục bộ, chủ quan, dễ đúng mà cũng dễ sai. Thảm kịch Miền Đất Hứa của Do Thái – Palestine hôm nay cho thấy một quan niệm quá đáng về đất đai lãnh thổ có thể gây ra những hậu quả kinh hoàng đến mức nào.

Khi phong trào tố khổ “Việt cộng dâng đất cho Trung cộng” xảy ra, Hoàng tôi mới lục lọi sách báo xem có thêm được hiểu biết nào không ngoài chuyện nói lui nói tới trên báo, trên đài, trên Internet vốn đã bị chính trị hóa méo mó đến độ không biết đâu mà phân biệt thực hư. Tài liệu coi như xưa nhất Hoàng tôi có sẵn trong tay là quyển État Actuel du Tunkin, de la Cochinchine et des Royaumes de Cambodge, Laos et Lac Tho của M. de la Bissachère, in năm 1812, tức 44 năm trước khi Pháp – Bồ Đào Nha tấn công Đà Nẵng và 72 năm sau khi Việt Nam phải khổ nhục ký văn kiện đầu hàng gọi là Hòa ước Giáp Thân. Về biên giới Việt – Hoa, de la Bissachère không cung cấp một bản đồ nào cả mà chỉ viết một câu: “… người ta có thể ước đoán rằng Tonkin (hay Đông Kinh) trải dài từ vĩ độ 17 lên đến vĩ độ 23, từ kinh tuyến 118 độ đến kinh tuyến 127 độ 30 phút” (1). So với thực tế biên giới Việt – Hoa hôm nay, ước tính đó hình như chỉ có một điểm khả dĩ chấp nhận đó là vĩ độ 23. Ngoài ra, quyển Vietnam – Places and History do Stewart, Tabori & Chang ấn hành ở New York năm 1998, có in lại ba bản đồ Việt Nam cổ. Bản đồ thứ nhất của anh em Van Langren phác họa năm 1595. Bản đồ thứ hai của P. du Val năm 1686. Và bản đồ thứ ba là của Giám Mục Alexandre de Rhodes (2). Càng xem ba bản đồ này Hoàng tôi càng mù mờ thêm nên đành chào thua. Mặt khác, Nguyễn Xuân Thọ kể rằng ngày 15.12.1883, Thủ tướng Pháp Jules Ferry từng đề nghị với Đặc sứ nhà Thanh tại Paris hai bên nên thương thuyết về “một đường biên giới chắc chắn” giữa Việt Nam và Trung Quốc để đi đến một vùng trái độn trung lập (3). Không biết chuyện này đi đến đâu nhưng ít ra Hoàng tôi có thể nghĩ rằng cho đến 1883 thì giữa Việt Nam và Trung Quốc chưa có một đường biên giới rạch ròi nào cả.

Vì kinh nghiệm và hiểu biết về biên giới ăn đong như thế, Hoàng tôi không khỏi chới với khi nghe nói đến Hiệp ước Thiên Tân 1885 về phân ranh lãnh thổ và Hiệp ước Brévié 1887 về lãnh hải (4), hoặc khi nghe Thứ trưởng Ngoại giao Lê Công Phụng nhắc đến là Công ước 1887 và 1895 phân định toàn bộ biên giới Việt – Hoa từ Tây sang Đông trên chiều dài trên dưới 1.300km và đã cắm trên 300 cột mốc, cũng như nội dung Hiệp định Việt – Hoa 30.12.1999 về biên giới và Hiệp định 25.12.2000 về lãnh hải (5).

Hoàng tôi cứ lao đao vì những câu hỏi như biên giới Việt – Hoa nào, ai phân định biên giới đó, hồi nào? Ải Nam Quan của ai, nằm ở đâu? Thác Bản Giốc ở đâu, của ai? Hang Pác Bó ở đâu? Tại sao chuyện hiệp định biên giới và lãnh hải bây giờ mới đặt ra v.v… và v.v…?

Phát súng lệnh của Trần Khuê

Chiến dịch tố khổ “Việt cộng cắt đất dâng cho Trung cộng” hình như khởi sự từ trong nước với những danh tính “đối kháng” quen thuộc… Phát súng lệnh điển hình khởi sự chiến dịch là lá thư ngỏ gửi Tổng Bí thư Giang Trạch Dân của Trần Khuê. Trần Khuê viết thư ngày 20.2.2002 trong lúc nhà lãnh đạo Trung Quốc này dự tính đến Việt Nam ngày 27.2.2002 (6). Đã hẳn, Trần Khuê là người đang ở trong nước dễ thu lượm và kiểm chứng các nguồn tin tức tài liệu liên hệ, lại là một người làm công tác nghiên cứu văn hóa, nghĩa là người mà thiên chức trí thức buộc phải nghiêm túc nói có sách mách có chứng. Trần Khuê nghiêm túc đến mức nào?

Trần Khuê nhắc lại chuyện xưa rằng: “… Nếu chúng tôi nhớ không nhầm thì trong dịp tiếp một đoàn đại biểu cao cấp của Việt Nam do Hồ Chủ tịch dẫn đầu, Mao Chủ tịch đã thay mặt nhân dân Trung Quốc xin lỗi nhân dân Việt Nam về những lỗi lầm và tai họa mà các triều đại phong kiến đã gây ra cho nhân dân Việt Nam trong quá khứ. Người còn đề nghị và tự tay mình bút phê sửa lại tên cho cửa ải biên giới Việt – Hoa, đổi ba chữ “Trấn Nam Quan” thành “Mục Nam Quan” (7). Trần Khuê không nói hội nghị thượng đỉnh ấy xảy ra ở đâu, năm nào. Điều khiến Hoàng tôi phân vân là tại sao Mao Trạch Đông vừa xin lỗi Hồ Chí Minh về những tội ác phong kiến rồi lại tái phạm ngay lỗi lầm phong kiến đó khi tự tiện cầm bút sửa chữ Trấn thành chữ Mục trên ải Nam Quan mà không hề trao đổi hay lịch sự hỏi qua ý kiến Hồ Chí Minh, như thể Trung Quốc là chủ nhân của Trấn Nam Quan vậy?

Ải nam quan nào?

Băn khoăn đó chưa được giải tỏa thì Hoàng tôi lại nhận được tờ Pháp Âm số 72, tháng 1.2002 phát hành từ Canada của Hòa thượng Tâm Châu. Bìa sau của tờ báo đăng một bức hình với chú thích: “Cửa ải Nam Quan. Biên giới Việt Nam & Trung Quốc từ nhiều đời. Nay tập đoàn Cộng sản Việt Nam nhượng cho Trung cộng và còn nhượng thêm vào nội địa Việt Nam chừng 5 cây số”.

Anh-Ai-Nam-Quang-tren-buu-thiep-thoi-xua
Ảnh ải Nam Quan trên bưu thiếp thời xưa – Ảnh internet

Hòa thượng Tâm Châu cao tăng đức trọng, lời Hòa thượng hẳn phải là “chân như” chứ không thể có chuyện “sắc tức thị không, không tức thị sắc”, râu ông nọ cắm cằm bà kia, Hòa thượng bảo cửa ải Nam Quan tức thị là cửa ải Nam Quan, mất thêm 5 km tức thị là mất thêm 5km. Biên giới Việt – Hoa dài ngót 1.300km, Hòa thượng dạy mất 5km bề rộng tức là mất 1.300km x 5km = 6.500km2, nghĩa là mất một diện tích rộng hơn gấp ba lần diện tích Hà Nội. Thực hư thế nào?

Hoàng tôi ước mong có cơ duyên hầu Hòa thượng để Hòa thượng khai tâm cho chuyện đó. Cũng như để xin Hòa thượng giải tỏa băn khoăn về hai chữ Nam Quan hay cửa Nam. Nếu người Việt tự ý xây một cửa ải địa đầu giữa mình và Trung Quốc thì ải đó phải là cửa Bắc, ải Bắc hay Bắc Quan chứ sao lại Nam Quan? Nói thế khác, nếu Việt Nam thực sự có một cửa ải gọi là Ải Nam Quan thì cửa ải đó phải ở Cà Mau, ở U Minh Hạ, hay ít ra thì cũng đâu đó ở khu Mỏ Vẹt Tịnh Biên chẳng hạn chứ sao Nam Quan lại nằm về phía Bắc và nhìn về phương Nam?

Ải nam quan của ai?

Trong khoảng 1.300km biên giới Việt – Hoa thì Cao Bằng có 314km và Lạng Sơn có 253km biên giới chung với tỉnh Quảng Tây (8). Lạng Sơn – cách Hà Nội 154km – là tỉnh địa đầu của Việt Nam theo nghĩa trong tất cả các tỉnh biên giới, Lạng Sơn là tỉnh gần nhất với thủ đô Hà Nội. Lạng Sơn nổi danh với hai cửa khẩu hay hai quan ải là Chi Lăng và Nam Quan.

Ải Chi Lăng, không phải cổng hay cửa mà là “một trận đồ hiểm ác… một thung lũng hẹp, hình bầu dục, chiều dài Bắc – Nam khoảng 4km. Có hai cửa, cửa phía Bắc gọi là Quỷ Môn Quan, cửa phía Nam gọi là Ngõ Thề. Ải Chi Lăng cách Hà Nội chừng 110km và cách biên giới 60km” (9).

Trong tỉnh Lạng Sơn, thị trấn biên giới cực Bắc là Đồng Đăng. Từ Đồng Đăng người ta có thể đi lên ải Nam Quan. Khoảng cách Lạng Sơn – Đồng Đăng theo Madrolle là 15km, theo Nguyễn Khắc Viện là 14km. Điều đó chẳng gây ra thắc mắc nào cả. Rắc rối là khoảng cánh Đồng Đăng – Ải Nam Quan. Khoảng cách đó, theo Madrolle là 4km (10), theo Nguyễn Khắc Viện là 3km (11), theo D. Robinson – R. Storey là 600m, theo Lê Công Phụng 200m. Sách Indochina của Madrolle viết năm 1930, nghĩa là trong lúc các hiệp ước giữa Pháp và nhà Thanh của Trung Quốc còn hiệu lực. Sách Đất Nước Việt Nam của Nguyễn Khắc Viện & al. viết năm 1989, quyển hướng dẫn du lịch Vietnam của D. Robinson – R. Storey viết năm 1993 (12), Lê Công Phụng lên tiếng mới đây và được phổ biến lại trên tờ Việt Luận ngày 8.2.2002 (13).

Như vậy, khoảng cách từ cột mốc 0km trên đường biên giới Việt – Hoa ngang Đồng Đăng đến ải Nam Quan hoặc là 4km, hoặc là 3km, hoặc là 600m, hay ít nữa cũng là 200m chứ không trùng với cột mốc 0km, cũng không ở trước cột mốc 0km về phía Nam, nghĩa là nằm lọ trong lãnh thổ Việt Nam. Nói thế khác, Ải Nam Quan, Trấn Nam Quan, Mục Nam Quan, Hữu Nghị Quan là một và xây trên phần đất của Trung Quốc chứ không phải trên phần đất Việt Nam. Hình ảnh của Ải Nam Quan đó chính là hình ảnh xuất hiện trên trang bìa sau tờ Pháp Âm của Hòa thượng Tâm Châu như đã nói. Madrolle cũng còn kể một chi tiết khác đáng chú ý về ải Nam Quan đó là “Vào ngày 24.2.1885, một ngày sau khi xảy ra trận chiến ở Đồng Đăng, Tướng de Négrier cho phá sập ải Nam Quan vào lúc 2 giờ 30 chiều và cho dựng lên gần đó một tấm biển ghi bằng chữ Hán: “Không phải vách đá bảo vệ được biên giới, mà là sự tôn trọng các hiệp định” (14). Như vậy là chính Pháp đã phá sập ải Nam Quan, và phải chăng ải Nam Quan hay Hữu Nghị Quan đang có hôm nay đã được Trung Quốc xây lại vào một lúc nào đó sau ngày 24.2.1885?

Học trò Việt Nam ngày trước đứa nào mà chẳng “tụng”: “Đất nước ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau”. Chúng tôi ngu ngơ, dại khờ, cuồng tín, lười biếng đến độ chẳng đứa nào thèm thắc mắc: Một, ải Nam Quan không phải do Việt Nam xây dựng vì nếu của Việt Nam thì phải gọi là ải Bắc Quan. Hai, ải Nam Quan do Trung Quốc xây trên đất Trung Quốc. Ba, ải Nam Quan không nằm trên biên giới Việt – Hoa trùng với cột mốc 0km hoặc trong địa phận Việt Nam. Bốn, ải Nam Quan nằm trong địa phận Trung Quốc, cách cột mốc 0km từ 4km đến 200m về phía Bắc như đã nói trên. Nếu hồi đó lũ chúng tôi thắc mắc được như thế thì đâu đến nỗi bây giờ cứ ngẩn tò te ra trước màn đấu tố “tội dâng đất” như xem ảo thuật hay làm xiếc thế này?!

Ai lấn đất của ai?

Trở lại vấn đề khoảng cách giữa cột mốc 0km nằm trên ranh giới Việt – Hoa ở Đồng Đăng với ải Nam Quan hay Hữu Nghị Quan nằm gọn trên đất Trung Quốc. Như đã nói, Madrolle, Nguyễn Khắc Viện, D. Robinson – R. Storey và Lê Công Phụng đều đưa ra những con số khác nhau về khoảng cách đó, chứng tỏ khoảng cách đó đã co dãn. Nhưng khoảng cách co dãn như vậy là vì ải Nam Quan di chuyển về hướng Việt Nam, hay vì lằn ranh giới Việt – Hoa di chuyển về hướng Trung Quốc? Nếu lằn ranh giới Việt – Hoa thực sự đã bò về hướng Hữu Nghị Quan trên đất Trung Quốc khiến cho khoảng cách từ cột mốc 0km đến Hữu Nghị Quan đã từ 4km năm 1930 đến 200m năm 2002 như vậy thì phải chăng Việt Nam đã lấn đất bằng cách nhích cột mốc 0km về phía Hữu Nghị Quan chứ không phải đã nhượng đất hay đã cắt đất dâng cho Trung Quốc? Và như vậy, nếu có tố cáo thì phải tố “Việt cộng lấn đất của Trung cộng” chứ sao lại tố ngược “Việt cộng dâng đất cho Trung cộng”?

Trần Khuê xác nhận là đã đi “khảo sát thực địa ở Lạng Sơn” (15) hồi tháng 8.2001, nghĩa là gần 20 tháng sau khi hiệp định về biên giới và lãnh hải được ký kết. Đã lặn lội lên Lạng Sơn như thế nhưng Trần Khuê lại không chịu khó chút nữa đến tận Đồng Đăng để xem ải Nam Quan nằm ở chỗ nào? Trần Khuê chỉ ở lì tại tỉnh lỵ vểnh tai nghe nguyên văn “người thì nói (ải Nam Quan) đã nằm sâu trong lãnh thổ Trung Quốc 500m, người thì nói 2.000m. Diện tích đất nhượng người thì bảo mất 500km2, người thì bảo mất hơn 700km2, có người lại nói mất hẳn 900km2. Riêng đồng chí Lê Thế Nghĩa nguyên trưởng ban biên giới của chính phủ thì cho chúng tôi biết Mục Nam Quan hiện nằm cách vạch biên giới là 800m và tổng số diện tích địa giới mà Việt Nam phải cắt nhượng cho Trung Quốc chỉ mất 232km2” (16).

Nhưng người mà Trần Khuê gọi là “đ/c Lê Thế Nghĩa nguyên trưởng ban biên giới của chính phủ” thực sự là Đại tá Lê Minh Nghĩa, kẻ đã xác nhận hai bên Việt – Hoa đang tranh chấp về 227km2 dọc biên giới chứ không hề có chuyện “dâng” cho Trung Quốc 232km2 như Trần Khuê nghe nói (17). Lại nữa, về 227km2 hai bên tranh chấp Lê Công Phụng cho biết đó là tổng số diện tích của 164 điểm tranh chấp trải dài trên khoảng 400km biên giới. Tranh chấp này cuối cùng được giải quyết ngày 30.12.1999 theo thỏa thuận VN: 113km2 và TQ: 114km2 (18). Nghĩa là, nếu có mất thì Việt Nam đã chỉ mất 114km2 chứ không phải 232, 500, 700 hay 900km2 như Trần Khuê nghe nói?

Chuyện trên bộ của Trần Khuê là thế, chuyện trên biển thì sao? Trần Khuê quả quyết rằng “vùng hải giới theo một cán bộ trong ban biên giới thì tỷ lệ chia lại vùng Vịnh Bắc bộ là: VN 53,23%, TQ 46,77%. Theo hiệp ước ký năm 1895 giữa triều Thanh Trung Quốc và chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam thì tỷ lệ là VN 64%, TQ 36%, như thế có người tính cụ thể Việt Nam mất (khoảng 10% hay) 112.000km2 lãnh hải” (19). Trần Khuê không cho biết dựa vào đâu mà kết luận 10% = 112.000km2 vì thực tế toàn bộ diện tích Vịnh Bắc bộ là khoảng 123.700km2 thì 10% số đó phải là 12.370km2 chứ làm sao lên đến 112.000km2 được (20)?

Dựa vào những kết quả nghe ngóng và tính toán như vậy, Trần Khuê thẳng tay tố cáo Bộ Chính trị Lê Khả Phiêu và Nhà nước Việt Nam “đã tùy tiện ký nhượng đất đai sông biển của Tổ quốc, đã phản bội dân tộc và càng làm lộ rõ thêm bộ mặt bù nhìn của mình, đã gây ra những tội ác trời không dung đất không tha vì đã ký hai hiệp định bán nước Việt – Hoa (21)”. Đây chính là nội dung bản đại cáo mà những nhân vật đối kháng chuyên nghiệp trong ngoài nước đồng loạt lặp lại. Còn chuyện tại sao lại Bộ Chính trị Lê Khả Phiêu mà không phải là Bộ Chính trị Nông Đức Mạnh thì chỉ có Trần Khuê và đồng bạn biết.

Lời thề của trần đại sĩ

Người thứ hai theo chân – hoặc dẫn đường – Trần Khuê trong việc khảo sát thực địa vấn đề biên giới và tội ác mại quốc cầu vinh là Bác sĩ Trần Đại Sĩ ở Paris (22).

Khác với Trần Khuê là trước khi phát hiện cái gọi là – nguyên văn của Trần Đại Sĩ – những “bí ẩn” về việc “Đảng CSVN lãnh đạo Nhà nước CHXHCNVN nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho THNDCHQ”, Trần Đại Sĩ đã long trọng tuyên bố: “Tuy tôi đã tuyên thệ tại đây hồi tháng Ba vừa qua. Nhưng hôm nay tôi xin tuyên thệ một lần nữa: “Tôi xin tuyên thệ với tất cả danh dự của tôi rằng: Tôi không thù, không ghét những người tại Việt Nam họ đã nộp lãnh thổ, lãnh hải cho Trung Quốc. Tôi cũng không vì lòng yêu nước mà oán ghét họ. Tôi không hận những người Việt chủ trương khủng bố tôi khi họ mời tôi về Việt Nam giúp đỡ họ. Những lời tôi trình bày hôm nay hoàn toàn vô tư”. Thề xong, Trần Đại Sĩ bật mí những điều được Trần Đại Sĩ coi là bí ẩn như sau:

Thứ nhất, số đất Việt Nam nhường cho Trung Quốc dọc theo biên giới hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng là 789km2 chứ không phải 720km2.

Thứ hai, cột cây số Zero (cột mốc 0km) bây giờ ở phía Nam chính là cột 5 cây số (cột mốc 5km) ngày trước.

Thứ ba, vùng Cao Bằng bị Trung Quốc lấn sát tới hang Pak-bó vì hang này trước kia nằm rất xa biên giới (khoảng 50km) nay nằm sát biên giới.

Thư tư, hiệp định về lãnh hải ngày 25.12.2000 làm cho Việt Nam mất thêm 9%, nghĩa là theo Hiệp ước Pháp – Hoa 1887 về Vịnh Bắc bộ thì tỷ lệ là VN 62%, TQ 38%, bây giờ là VN 53% và TQ 47%.

Thứ năm, tất cả những “bí ẩn” đó là do hai ký giả Trung Quốc bạn của Trần Đại Sĩ cho biết ngày 9.1.2000”.

Trần Đại Sĩ thề với người đọc nhưng hai ký giả bạn Trần Đại Sĩ có thề – hoặc Trần Đại Sĩ có đòi họ phải thề – khi họ tiết lộ bí ẩn cho Trần Đại Sĩ không? Mặt khác, Trần Đại Sĩ bảo lấy danh dự cá nhân để thề, nhưng lại không cho biết lấy gì để bảo chứng danh dự cá nhân đó? Thế nên, Trần Đại Sĩ đã không thể giải tỏa hết những thắc mắc về những điều được bật mí…

Thứ nhất, Trần Đại Sĩ quả quyết Việt Nam mất 789km2 chứ không phải chỉ 720km2 thôi, nhưng Trần Đại Sĩ lại không viện dẫn tài liệu nào nói Việt Nam mất 720km2? Mặt khác, chiều dài biên giới Việt – Hoa thuộc tỉnh Lạng Sơn là 253km, thuộc Cao Bằng là 314km, tổng cộng là 567km. Trần Đại Sĩ tính chiều rộng của những chỗ bị mất như thế nào mà đưa ra đáp số 789km2 từ 567km chiều dài đó?

Thứ hai, Trần Đại Sĩ quả quyết cột mốc 0km hiện tại chính là cột mốc 5km ngày trước. Ở trên đã lược qua một số ý kiến khác nhau về đoạn đường từ Đồng Đăng – cụ thể là từ cột mốc 0km – lên đến Ải Nam Quan, theo Madrolle là 4km, Nguyễn Khắc Viện là 3km, D. Robinson và R. Storey là 600m và Lê Công Phụng là 200m. Dù xa gần có khác nhau như thế, nhưng không một người nào trong số đó dám bảo là cột mốc 0km trên đường biên giới Việt – Hoa băng quang vùng Đồng Đăng bây giờ chính là cột mốc 5km trong lãnh thổ Việt Nam ngày trước – nghĩa là cột mốc 0km đã bị đẩy lùi về phía Nam sâu vào nội địa Việt Nam 5km – như Trần Đại Sĩ thề quyết. Không ai dám nói, vì nếu sự thật quả như lời thề của Trần Đại Sĩ thì thị trấn Đồng Đăng – cụ thể là ga xe lửa Đồng Đăng – bây giờ đã là của Trung Quốc, đã lọt thỏm vào trong lãnh thổ Trung Quốc rồi. Điều này chỉ mới có trong mơ của Trần Đại Sĩ.

Thứ ba, về tỷ lệ bách phân trong việc phân chia lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc. Con số Trần Đại Sĩ đưa ra đại để cũng giống như con số của Trần Khuê. Chỉ khác hai điều. Một, Trần Đại Sĩ không dám quả quyết 9%-10% là bằng 112.000km2 như Trần Khuê. Hai, số liệu của Trần Đại Sĩ là do hai ký giả Trung Quốc tiết lộ trong khi số liệu của Trần Khuê là do “một cán bộ trong Ban Biên giới” cho biết. Tất cả đều vô danh, đều khẩu thuyết vô bằng nhưng đều đáng tin vì một đàng do tài “nghe nói” của Trần Khuê, một đàng do “tất cả danh dự” của Trần Đại Sĩ.

Thứ tư, hang Pác Bó (Trần Đại Sĩ viết là Pak-bó) và thác Bản Giốc. Đây cũng là những địa điểm Trần Khuê – Trần Đại Sĩ và đồng bạn nâng cấp thành vùng đất thiêng để thêm bằng chứng cho cáo trạng “dâng đất”. Trần Đại Sĩ bật mí là Việt Nam đã “nhượng vùng Cao Bằng sát tới hang Pak-bó. Trước kia nằm rất xa biên giới (khoảng 50km) nay nằm sát biên giới”. Nhưng Nguyễn Khắc Viện cho biết thực tế Pác Bó là “một xóm nhỏ nằm sát biên giới Việt – Hoa cách Cao Bằng 60km… nơi đây có một dòng suối, một ngọn núi và một cái hang gọi là hang Cóc Bó nơi đã che chở Hồ Chí Minh khi Hồ Chí Minh từ Trung Quốc trở về năm 1941. Khu vực hang Pác Bó đó nằm ngay trên biên giới Việt – Hoa, cột biên giới 108” (23). Nguyễn Khắc Viện viết ra chi tiết đó năm 1989, mười năm sau cuộc chiến biên giới Việt – Hoa. Như vậy thì cái hang mà Trần Đại Sĩ gọi là “Trước kia nằm rất xa biên giới khoảng 50km đó nhưng nay lại nằm sát biên giới” – nghĩa là đường ranh giới đã bị dời xuống phía Nam, là cái hang tên gì, ở đâu? Phải chăng đây là cái hang mà Trần Đại Sĩ thề bán sống bán chết là đã tận mắt nhìn thấy từ… Paris?

Thác Bản Giốc. Theo Nguyễn Khắc Viện thì “Từ huyện Trùng Khánh đi chừng 20km về tới xã Đàm Thủy, từ xa có thể nghe thấy tiếng ầm ầm vang lại và một làn sương mờ tỏa ngang sườn núi vòng lấy một đoạn sông Quy Sơn nằm ngang biên giới Việt – Hoa, ở đây mặt nước sông Quy Sơn đột ngột hạ thấp hẳn xuống chừng 30m, làm cả khối nước khổng lồ ấy đổ xuống, tạo thành thác Bản Giốc… Dưới chân thác Bản Giốc là mặt sông rộng, phẳng như gương” (24).

Nguyễn Khắc Viện xác nhận thác Bản Giốc nằm ngang biên giới Việt – Hoa. Cũng như hang Pác Bó, xác nhận đó được đưa ra năm 1989. Trần Khuê và đồng bạn có thể lắc đầu phủ nhận nại cớ là đường biên giới đó đã bị Trung Quốc ép buộc Việt Nam vẽ lại để hợp thức hóa việc chiếm đất của Trung Quốc. Hình như Thượng tọa Như Điển ở Đức cũng đã nghĩ như thế. Tờ Viên Giác số 127 tháng 2.2002 của Thượng tọa viết: “Đảng CSVN đã giao nộp 12 cây số chiều sâu vào đất liền thuộc biên giới 6 tỉnh miền Bắc, từ biên giới Lào Quốc đến Vịnh Bắc Việt”. Do đó “Thác Bản Giốc Cao Bằng nay thuộc về lãnh thổ của Trung Quốc”. Như vậy, tố cáo của Thượng tọa Như Điển trầm trọng hơn cáo trạng của Hòa thượng Tâm Châu. Vì theo Thượng tọa Như Điển thì Việt Nam mất 1.300km x 12km = 15.600km2 đất liền chứ không phải chỉ 6.500km2 như Hòa thượng Tâm Châu dạy. Còn thác Bản Giốc thì mất đứt. Người Việt nào mà không ấm ức tiếc hận. Đó cũng là nhờ quý Hòa thượng, Thượng tọa khai tâm cho. Nhưng thực hư ra sao?

Không phải đến năm 1989, Nguyễn Khắc Viện mới xác nhận tình trạng thác Bản Giốc nằm ngang biên giới Việt – Hoa như thế mà 59 năm trước, Madrolle cũng từng nói nguyên văn: “Từ Cao Bằng đến Bản Giốc, 81km Đông-Bắc-Đông. Cuối dòng là thác Tu-Tong, cao 25m. Lòng sông tạo thành ranh giới giữa Tonkin và Trung Quốc” (25). Madrolle viết câu ấy năm 1930 nên không thể nghi ngờ Madrolle bị áp lực Trung Quốc mà quấy quá. Vì trong tình thế năm 1930, Pháp không chiếm đất của Trung Quốc thì thôi chứ không thể có chuyện ngược ngạo Trung Quốc ép Pháp dâng đất. Mặt khác, Madrolle nói đến thác “Tu-tong”, phải chăng đây là tiếng người Trung Quốc dùng để gọi phần thác Bản Giốc của họ? Lê Công Phụng cũng nhắc lại ý niệm “Lòng sông tạo thành ranh giới giữa Tonkin và Trung Quốc” của Madrolle bằng cách nói rõ: “Cột mốc đang tồn tại được cắm từ thời Thanh, xác định chỉ có chưa được một nửa thác Bản Giốc là ở bên phía ta. Theo quy định quốc tế, khi phân giới cắm mốc thì thác được coi như một dòng sông, một dòng suối. Đã là sông suối thì đường biên giới đi qua luồng chính tức là chỗ tàu thuyền đi lại được. Còn đối với sông suối nơi tàu thuyền không đi lại được, thì đường biên giới phải đi theo rãnh sâu nhất… Lẽ ra theo thực tiễn thì chúng ta chỉ được 1/3. Nhưng sau đàm phán, chúng ta và bạn đã thỏa thuận thác Bản Giốc được chia đôi, mỗi bên được 50%. Hiện nay cả hai bên đang tiến hành khai thác du lịch phía bên mình” (26). Như vậy, nếu nói rằng thác Bản Giốc vốn là hoàn toàn của Việt Nam và bây giờ đã lọt 2/3 hay 1/2 vào tay Trung Quốc thì hóa ra kẻ đáng bị tố khổ chính là thực dân Pháp trước đây chứ không phải Việt Nam hôm nay?

Đấy là những điều Trần Đại Sĩ thề danh dự khi nói ra, và những người tham dự chiến dịch tố khổ “Việt cộng dâng đất cho Trung cộng” thề mà lặp lại. Thề là một quyết tâm chân thật và thề cũng là một hứa hẹn gian dối. Bởi lý, nếu biết chắc mình không nói dối thì cần gì phải thề nói thật. Phải chăng vì không muốn cho hai ông bạn ký giả của mình ở vào tình trạng khó xử đó nên Trần Đại Sĩ không bắt họ thề trước khi tiết lộ bí ẩn để Trần Đại Sĩ tiết lộ lại cho đồng bào mình nghe chăng?

(Xem tiếp kỳ sau)

Hoàng Nguyên Nhuận
29 tháng 10, 2008
http://sachhiem.net/HOANGNN/Hoang16.php
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 452

______________

Chú thích
1. M. de la Bissachère – État Actuel du Tunkin, de la Cochinchine et des Royaumes de Cambodge, Laos et Lac Tho, Galignani, Paris 1812, tr.21: “… on peut estimer que le Tunkin s’étend depuis le 17ème degré de latitude jusqu’au 23ème, et en longitude depuis le 118è jusqu’au 127è trente minutes”.
2. Stewart, Tabori & Chang – Vietnam – Places and History, New York 1998, tr.21, 23 và 24.
3. Nguyễn Xuân Thọ – Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897), Mekong Printing, Santa Ana 1995, tr.324.
4. Nguyễn Hữu Thống – Lên tiếng về việc CSVN cắt đất cho Trung Cộng, Góp Gió, Washington, 12.2.2002.
5. Diệu Vân – Phỏng vấn Thứ trưởng Ngoại giao Lê Công Phụng, Việt Luận, Sydney 8.2.2002.
6. Trần Khuê – Thư ngỏ gửi Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, Việt Luận, Sydney, 1.3.2002.
7. Trần Khuê – sđd.
8. Nguyễn Khắc Viện & al. – Đất nước Việt Nam, Hà Nội 1989, tr.285- 289.
9. Nguyễn Khắc Viện & al. – sđd, tr.286-288.
10. Madrolle – Indochina, Hachette, London – Paris 1930, tr.178: From Dong Dang, the road runs uphill to the Port de Chine, 4k. Nam-quan (Nan-Kuan; Chinese), the Southern Toll Gate of China. A wall about 370m. long rises among the chalk cliffs (forming the frontier) and bars the frontier.
11. Nguyễn Khắc Viện & al. – sđd, tr.286: Phía Đông là biên giới Việt – Hoa chỉ cách Đồng Đăng 3km, nhìn thấy cửa Hữu nghị nằm trong đất Trung Quốc.
12. D. Robinson – R. Storey – Vietnam, Lonely Planet, Victoria 1993, tr.437, căn dặn du khách muốn quá giang xe để sang Trung Quốc bằng ngả Lạng Sơn: Make sure they take you to Huu Nghi Quan – there are a few other checkpoints but this is the only one where foreigners can cross… There is a walk of 600m from Vietnamese border post to “Friendship Gate” on the Chinese side.
13. Diệu Vân – sđd.
14. Madrolle – sđd, tr.177: On Feb. 24, 1885 the day after the fighting at Dong-dang, General de Négrier blew up the Gate at 2’30pm, while near by an inscription was posted in Chinese characters, reading: “It is not stone walls that protect frontiers, but the carrying out of treaties”.
15. Trần Khuê – sđd.
16. Trần Khuê – sđd.
17. Bàn Tân Định – Giữa sự thật và tin đồn – Vấn đề lũng đoạn thông tin – Web Giaodiem. com
18. Diệu Vân – sđd.
19. Trần Khuê – sđd.
20. Bàn Tân Định – sđd.
21. Trần Khuê – sđd.
22. Trần Đại Sĩ – Bí ẩn của việc Việt Nam hiến đất dâng biển cho Trung Quốc, cắt 789km2 – lùi 5 km – Dân Việt, Sydney số ngày 24.1.2002.
Một số người gặp tác giả bài này quả quyết họ không biết Bác sĩ Trần Đại Sĩ là ai cả. Chỉ có Trần Thế Tùng sống bằng nghề châm cứu và thuốc Nam. Trần Thế Tùng ngày xưa là Thiếu sinh quân, lớn lên học Đại học Sư phạm ban Việt – Hán, nhập ngũ học sĩ quan, phục vụ trong ngành Chiến tranh chính trị đến cấp bậc Thiếu tá. Trần Thế Tùng có một người anh là Trần Huy Phong tự Quyền, lãnh tụ Vovinam ở Melbourne, Úc Đại Lợi. Đời có thể có sự trùng hợp lạ lùng vậy sao?! Xin nhường cho Bác sĩ Trần Đại Sĩ trả lời.
23. Nguyễn Khắc Viện & al.- sđd., tr.291.
24. Nguyễn Khắc Viện & al., sđd., tr.291-292.
25. Madrolle, sđd., tr.179-180: Cao Bang to Ban Gioc, 81k. E.N.E – Downstream, cascade of Tu-tong, the height of which is 25m. The bed of the river here constitutes the frontier between Tonkin and China.
26. Diệu Vân – sđd.

Ý Kiến bạn đọc