Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Ải Nam Quan và sự thật chuyện “Cộng sản Việt Nam dâng đất cho Trung Quốc”

(Kỳ 2)

Ông Tây dăng dây thép họa địa đồ nước Nam

Hành động của Tướng de Négrier đánh sập ải Nam Quan năm 1885 để dằn mặt Trung Quốc như Madrolle kể, gợi lại một thời đen tối tủi nhục mà cũng hào hùng của lịch sử Việt Nam. Pháp chiếm trọn miền Bắc, quay vào tiến đánh kinh thành Huế, và hoàn thành nền đô hộ Việt Nam. Phong trào Văn Thân – Cần Vương nổi lên khắp nơi kéo dài trong ngót 20 năm khởi từ quyết định của vua Hàm Nghi rời bỏ đế đô lên rừng kháng chiến cho đến khi Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám hy sinh. Lồng trong phong trào này là phong trào Bình Tây Sát Tả vì sĩ phu toàn quốc và “phần đông người đương thời cho rằng “Tây là đạo”, “đạo là Tây” (27).

Hồi nhỏ Hoàng tôi thường nghe bà nội hát ru: Kể từ ngày thất thủ kinh đô, ông Tây qua dăng dây thép họa địa đồ nước Nam. Như vậy, không có “ông Tây” thì cũng không có bản đồ nước Nam – ít nữa cũng như bản đồ mà Hoàng tôi thấy trong sách của Madrolle hay Gourdon? (28). Kinh đô thất thủ năm 1885. Năm 1885 có thể coi là cột mốc thời gian từ đó cái gọi là bản đồ Việt Nam và lãnh thổ – lãnh hải Việt – Hoa được chính thức thành hình. Công chiếm đất của Trung Quốc cho Việt Nam hay tội nhường đất Việt Nam cho Trung Quốc đều một tay do Pháp. Phải chăng cũng vì vậy mà khi nói đến chuyện ranh giới Việt – Hoa trên đất liền hay trên mặt biển thì luôn luôn phải bắt đầu bằng những thỏa hiệp giữa Pháp với nhà Thanh?

Trong giai đoạn Pháp thiết lập nền đô hộ trên đất Việt Nam, cụ thể là giai đoạn xâm chiếm và bình định miền Bắc, cả Pháp và Trung Quốc đều lo ngại về vấn đề biên giới. Bởi vì “Bắc Kinh thì đinh ninh rằng Pháp sẽ mở cuộc tấn công trực tiếp vào lãnh thổ của mình, có thể là vào Thiên Tân… Vì vậy nỗi lo lắng giờ đây của chính phủ Trung Quốc không còn là vấn đề Bắc kỳ nữa, mà là vấn đề quốc phòng của chính mình” (29). Trong khi người Pháp lại không muốn để cho Trung Quốc lợi dụng vấn đề biên giới để can thiệp vào Việt Nam. Cũng vì những lo sợ ngấm ngầm đó nên cả hai đều nghiêm túc đàm phán về biên giới trên căn bản Pháp không xâm phạm chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của Trung Quốc và Trung Quốc thì từ bỏ quyền bảo hộ Việt Nam và công nhận một vùng trung lập trái độn.

Buc-tuong-o-Ai-Nam-Quan-truov-khi-bi-pha-huy
Bức tường ở Ải Nam Quan trước khi bị phá hủy. 

Trong khi thương lượng với Trung Quốc, nếu Pháp không chịu thiệt một tấc đất của Việt Nam hoặc lấn thêm đất thêm biển của Trung Quốc, thì cũng chỉ vì Pháp nghĩ rằng Việt Nam đã là một thứ Pháp quốc hải ngoại của chính quốc rồi (30). Mặt khác, vùng trung lập trái độn Pháp âm mưu thiết lập không chỉ dọc biên giới Việt – Hoa mà chính là một vùng rộng lớn xuống tận Campuchia bao gồm các tỉnh biên giới từ Móng Cái – Quảng Ninh phía Đông sang Lai Châu phía Tây, và từ Sơn La xuống đến tận Đắc Lắc – Đà Lạt. Vùng trái độn nầy sẽ là nước Việt Nam thứ tư – sau Bắc kỳ quốc Tonkin, Trung Kỳ quốc Annam và Nam kỳ quốc Cochinchine – mà Pháp dự định thành lập dưới cái tên Hoàng Triều Cương Thổ, với dân số chủ lực là người Tày – Nùng và người Thượng. Phong trào FULRO được thai nghén từ đó. Đến bây giờ, mưu định đó vẫn chưa hẳn đã chết trong đầu óc ngoại bang.

Tình nghĩa Việt – Hoa

Năm 1876, Rheinart Đặc sứ Pháp bên cạnh triều đình Tự Đức gởi cho Thống đốc Nam kỳ Thomson một phúc trình trong đó có đoạn: “Triều đình Huế chắc cũng hối hận bị nội thuộc nước Tàu, nhưng tôi chắc rằng họ muốn trở thành một tỉnh của nước Tàu còn hơn là nhận ta bảo hộ… Người Tàu là chú hoặc anh, chúng ta là mọi rợ. Chế độ Tàu sẽ thay đổi rất ít đến tập tục của các quan, còn phụ thuộc là một điều nhục nhã còn khó chịu hơn là tự tử” (31). Nhận định của Rheinart có lẽ chỉ đúng một phần, đó là mất tự chủ tự quyết là “điều nhục nhã còn khó chịu hơn là tự tử”. Và đối với những người Việt có ý thức và ý chí tự chủ tự quyết thì Pháp hay Trung Quốc, Nga hay Mỹ, hay bất cứ nước nào khác đều như nhau thôi.

Vào giai đoạn chót của Đệ nhị Thế chiến, Nhật chính thức mở mặt trận Thái Bình Dương và lấn chiếm Đông Dương. Vì Pháp không tự vệ được mà cũng không bảo vệ được cho Việt Nam nên chế độ bảo hộ mặc nhiên kết thúc. Pháp không chấp nhận thực tế lịch sử đó nên khi Nhật đầu hàng, chiến tranh kết thúc thì Pháp lại mon men trở lại Việt Nam. Năm 1949, trong lúc Pháp đang lủng ca lủng củng tái lập chế độ thực dân và Việt Minh đang vất vả cầm cự bằng du kích chiến thì ở Hoa lục, cuộc vạn lý trường chinh của Mao Trạch Đông hoàn thành. Quả thực, Trung Quốc có thể lợi dụng tình thế để rửa cái nhục biên giới cũ bằng cách tràn qua biên giới, buộc Pháp phải xóa bỏ tất cả những điều ước bất công ngày trước. Trung Quốc đã không làm hay chỉ làm nửa chừng đó là “dùng người Việt để chống Pháp” bằng cách thừa nhận ngoại giao Việt Minh và giúp cho Việt Minh đủ sức chống Pháp.

Cái giá của viện trợ 

Tưởng Giới Thạch chạy ra Đài Loan. Số vũ khí mà bại quân của Tưởng vứt lại giúp trang bị đầy đủ cho Việt Minh. Sư đoàn 308 hay đại đoàn chủ lực đầu tiên được thành lập và Việt Minh bước từ giai đoạn cầm cự chiến lược sang giai đoạn chuẩn bị tổng phản công. Cuối tháng 12.1950, Việt Minh mở đầu Chiến dịch Trần Hưng Đạo, tràn xuống trung du hay đồng bằng Bắc bộ khởi sự tổng phản công (32) và kết thúc cuộc chiến ở Điện Biên Phủ năm 1954.

Điều bi hài lịch sử là kể từ khi Pháp đô hộ Việt Nam, triều đình Trung Quốc ba lần đổi chủ với nhà Thanh, Trung Quốc Dân Quốc và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nhưng chủ trương của Trung Quốc dùng Việt Nam như một trái độn thì vẫn không thay đổi – trước là với Pháp và sau với Mỹ. Vì chủ trương chiến lược đó nên khi cần, Trung Quốc chỉ giúp Việt Nam đủ sức cầm cự chiến đấu chứ không đủ sức chiến thắng. Trung Quốc cũng thừa biết vì thế kẹt “sanh dựa thần, thần dựa cây đa”, Việt Nam phải cam phận làm đòn kê trái độn. Cái giá của viện trợ này đã được chính Bộ Ngoại giao Việt Nam CHXHCNVN xác nhận trong bạch thư nhan đề “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”, phổ biến hồi tháng 10.1979 (33).

Bằng chứng về chủ trương dùng viện trợ để làm áp lực đó đã lộ rõ trong Hội nghị Genève 1954. Trong hội nghị này, “lập trường của Việt Nam là đi tới một giải pháp hoàn chỉnh: đình chỉ chiến sự trên toàn bán đảo Đông Dương đi đôi với một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, Lào và Campuchia…” thì Trung Quốc lại chỉ muốn “một giải pháp theo kiểu Triều Tiên, nghĩa là đình chỉ chiến sự mà không có giải pháp chính trị”. Nói thế khác, Trung Quốc chủ trương chia cắt Việt Nam, duy trì chế độ bảo hộ của Pháp ở miền Nam với thâm ý dùng Pháp ngăn Mỹ nhảy vào Việt Nam, và giữ miền Nam như một trái độn chặn Mỹ xâm nhập và hăm dọa Trung Quốc từ phía Nam. (34)

Đối với cả Việt Minh và Trung Quốc, nếu Điện Biên Phủ là một toàn thắng quân sự thì Hội nghị Genève chỉ là một chiến thắng chính trị nửa vời. Việt Minh chỉ chiếm được nửa Việt Nam và trở thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Pháp đã bị Mỹ hất cẳng chứ không bám trụ ở miền Nam như Trung Quốc mong ước. Sau này, khi bị Trung Quốc thúc ép phải nhượng bộ Mỹ, miền Bắc nói thẳng là sẽ không nghe Trung Quốc nữa vì Trung Quốc đã sai lầm trong Hội nghị Genève năm 1954. (35)

Khi miền Nam biến thành nước Việt Nam Cộng hòa như miền Bắc và Mỹ thực sự thế chân Pháp, lo ngại vì miền Bắc mà mình có thể trực tiếp đụng đầu với Mỹ nên Trung Quốc cố thuyết phục miền Bắc đừng quấy động ở miền Nam và duy trì nguyên trạng hai chế độ. Bằng chứng là năm 1964, vụ Vịnh miền Bắc xảy ra thì Trung Quốc một mặt cho Mỹ biết “anh không đánh tôi thì tôi không đánh anh” và mặt khác chỉ viện trợ cho Việt Nam vũ khí nhẹ, đạn dược và trang bị hậu cần đủ để bảo trì một cái bẫy cho Mỹ sa vào (36). Cũng vì tránh đụng độ trực tiếp với Mỹ như thế nên Trung Quốc đã làm lơ một hiệp định quân sự bí mật giữa Việt – Hoa theo đó đến tháng 6.1965, Trung Quốc sẽ gửi phi công sang giúp. (37)

Trung Quốc không muốn cho miền Bắc thắng mà cũng không muốn chiến tranh sớm kết thúc. Sau Tết Mậu Thân 1968, Mỹ và Hà Nội đồng ý thương thuyết thì Trung Quốc lại chống lấy lý do nhận thương thuyết là “nhân nhượng một cách vội vã”. Đây là điều mà Tướng Taylor gọi là âm mưu của Trung Quốc đánh Mỹ đến người Việt cuối cùng. Đến khi không ngăn cản được miền Bắc ngồi vào bàn hội nghị với Mỹ thì Trung Quốc làm áp lực bằng cách cắt viện trợ, cụ thể là giảm kim ngạch viện trợ năm 1970 hơn 50% so với năm 1968. (38)

Trung Quốc cũng lợi dụng tình hình Việt Nam để cải thiện bang giao với Mỹ trên căn bản trao đổi: Trung Quốc giúp Mỹ giải quyết vấn đề Việt Nam thì Mỹ sẽ giải quyết vấn đề Đài Loan cho Trung Quốc. Để gia tăng áp lực với miền Bắc, Trung Quốc lại dùng viện trợ. Năm 1971, 1972, Trung Quốc đã dành cho miền Bắc viện trợ cao nhất so với những năm trước (39) để cố thuyết phục miền Bắc chấp nhận đề nghị 4 điểm của Mỹ: – rút quân và thả tù binh trong vòng 12 tháng, – ngưng bắn kiểu Genève 1954, – nhận cho Mỹ để lại một số cố vấn kỹ thuật và – duy trì Nguyễn Văn Thiệu (40). Miền Bắc không chịu. Nixon đến Bắc Kinh tháng 3.1972 và cụ thể hóa những cam kết Hoa – Mỹ bằng Thông cáo Thượng Hải. Hai chỗ dựa chính của miền Bắc là Trung Quốc và Nga Sô. “Đả thông” với Trung Quốc rồi thì Mỹ chỉ còn “thông cảm” với Moscow là tha hồ “nghiền nát Việt Nam” (41). Nixon và Kissinger lại lục tục đi Nga vào tháng 5. Liên minh Hoa – Mỹ thất bại trong việc ngăn miền Bắc tiến công miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, nhưng quả thật đã phần nào giúp Mỹ rảnh tay thúc ép Nga đến chỗ phải giải thể chế độ Sô Viết và giải tỏa gọng kềm khống chế Đông Âu năm 1989 vậy.

Được sự mặc nhiên đồng thuận với Trung Quốc rồi, Nixon phát động chiến dịch “già đòn non nhẽ” thả mìn phong tỏa các hải cảng miền Bắc, ồ ạt tấn công hai miền Nam Bắc (42) hầu như suốt cả năm 1972 mà vẫn không ép được miền Bắc phải nhượng bộ thêm điều gì thiết thực trong khi Nixon đang bị Quốc hội còng tay vì vụ Watergate. Nixon phải gánh trên vai hai thất bại Watergate và Đông Dương. Ngày 27.1.1973, Hiệp định Paris được hai phe bốn phía ký kết với những điều cam kết: Mỹ rút quân, trao trả tù binh, miền Nam có hai vùng, hai chính quyền, hai quân đội và ba lực lượng chính trị, các lực lượng này sẽ thành lập một chính phủ liên hiệp ba thành phần.

Tháng 6.1973, tức nửa năm sau Hiệp định Paris, trong khi một mặt Mao Trạch Đông khuyên các nhà lãnh đạo miền Bắc nên ngưng nghỉ một thời gian “nửa năm, một năm, một năm rưỡi, hai năm” càng tốt ở miền Nam và Chu Ân Lai lại nhấn mạnh thêm là thời gian nghỉ ngơi đó chưa thể dứt khoát là 5 hay 10 năm để thực hiện “hòa bình, trung lập” (43), thì mặt khác Trung Quốc cũng khuyên Mỹ là “đừng thua ở Việt Nam và đừng rút lui khỏi Đông Nam Á” như lời tiết lộ của A. Haig với tờ Christian Science Monitor ngày 20.6.1979 (44). Để tăng mức độ thuyết phục miền Bắc, Trung Quốc hứa duy trì mức viện trợ của năm 1973 cho 5 năm tới, nhưng “sự thật là họ đã ngừng hoàn toàn viện trợ về quân sự, còn về viện trợ kinh tế họ nhận chủ yếu phục hồi các cơ sở do Trung Quốc giúp trước đây và đã bị Mỹ đánh phá, nhưng họ kéo dài việc thực hiện, có nơi không thực hiện (45). Đây cũng chính là thời gian Trung Quốc bất thần ra tay chiếm Hoàng Sa.

Hoàng Sa và bài học của Đặng Tiểu Bình

Năm 1958, Ban chấp hành Trung ương của hai Đảng đồng ý tôn trọng ranh giới do Pháp và nhà Thanh đã thỏa thuận trong thế kỷ trước (46). Ngày 26.12.1973, Hà Nội đề nghị Bắc Kinh nói chuyện về hải phận trong Vịnh Bắc bộ. Gần một tháng sau, ngày 18.1.1974, Bắc Kinh mới thông báo chấp nhận đề nghị đó. Nhưng ngay ngày hôm sau – ngày 19.1.1974 – Trung Quốc bất thần tung hải và không quân đánh chiếm Hoàng Sa với sự đồng thuận của Mỹ. Bằng chứng là Mỹ không những làm ngơ lời cầu viện của Sài Gòn mà còn ra lệnh cho Hạm đội 7 tránh xa vùng Hoàng Sa – Trường Sa cho Trung Quốc rộng đường hành động. Từ tháng 8 đến tháng 11.1974, Hà Nội lại cố tái tục các cuộc thương thuyết về biên giới trên bộ và dưới biển nhưng chẳng đi đến đâu. Sau khi chiến tranh chấm dứt, đến tháng 10.1977, Việt Nam lại cố gắng nữa (47). Nhưng vấn đề trở thành trầm trọng hết thuốc chữa vì lần này Trung Quốc không những không muốn thương thuyết mà còn muốn lấy chuyện biên giới làm cái cớ để “dạy” cho Việt Nam một vài bài học về cái tội… cứng đầu.

Lịch sử có những điều lặp lại trớ trêu. Sau 1945, nhân loại bắt đầu hưởng hòa bình thì Việt Nam phải bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau 1975, chiến tranh Việt – Mỹ kết thúc thì xung đột Việt – Hoa bắt đầu. Có thể nói, việc Việt Nam ký Hiệp ước an ninh Việt – Nga và gia nhập khối COMECON, cũng như chiến dịch cải tạo công thương nghiệp hay đánh tư sản mại bản và chương trình Xuất ngoại bán chính thức ở miền Nam và phong trào hồi hương Hoa kiều ở miền Bắc là những giọt nước làm cho ly nước xung khắc Hoa – Việt đầy tràn. Điều đáng nói là điểm nóng của cuộc xung đột này không phải chỉ biên giới Việt – Hoa, mà cả biên giới Việt – Miên.

Vì đã ngoéo tay với Trung Quốc để thực hiện chiến dịch dương Tây kích Bắc nên Pol Pot không những chối từ đề nghị hai bên Miên – Việt ký một hiệp ước bất tương xâm và lập khu phi quân sự giữa hai nước, mà còn tập trung 19 sư đoàn bộ binh cơ hữu dọc biên giới Việt – Miên chuẩn bị gây hấn (48). Ngày 22.12.1978, Pol Pot phát động chiến dịch cáp-duồng mới đánh vào Bến Sỏi với ý định chiếm Tây Ninh mở đường tiến về Sài Gòn. Việt Nam chỉ còn một đường phải giải quyết gấp vấn đề Campuchia để còn ứng phó với tình hình nóng bỏng ở biên giới Việt – Hoa. Ngày 10.1.1979, Việt Nam tiến quân vào Nam Vang và chế độ Pol Pot cáo chung.

Để chuẩn bị dạy cho Việt Nam một bài học về tội cứng đầu, ngày 17.2.1979, Đặng Tiểu Bình đã “huy động 60 vạn quân, gồm nhiều quân đoàn và nhiều sư đoàn độc lập, nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật với gần 800 xe tăng và xe bọc thép, hàng ngàn khẩu pháo, hàng trăm máy bay các loại” (49) để phát động tấn công trên một mặt trận dài 1.000km (50). Bài học Đặng Tiểu Bình nhắm 4 mục tiêu rõ rệt: triệt hạ một phần quân lực, phá hoại tiềm lực kinh tế và quốc phòng của Việt Nam, lấn chiếm đất đai và kích động bạo loạn (51). Cuộc chiến biên giới chấm dứt sau hơn nửa tháng. Ngày 5.3.1979, Trung Quốc tuyên bố đơn phương ngưng bắn, rút quân và chấp nhận đàm phán.

(Xem tiếp kỳ sau)

Hoàng Nguyên Nhuận,
29 tháng 10, 2008
http://sachhiem.net/HOANGNN/Hoang16.php
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 453

Chú thích:

27. Phan Khoang – Việt Nam Pháp Thuộc Sử 1884-1945, không ghi nơi tái bản, tr.366.
28. H. Gourdon – L’Indochine, Larousse, Paris 1931.
29. Nguyễn Xuân Thọ – sđd. tr.309.
30. Pháp quốc hải ngoại: France d’Outre-mer.
31. Phan Khoang – sđd. tr.255.
32. Viện Sử học – Việt Nam những sự kiện 1945-1986. KHXH, Hà Nội 1990, tr.44-47 và 58.
33. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Sự thật, Hà Nội 1979.
34. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.26-27.
35. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.62.
36. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.44-45.
37. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.46.
38. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.51.
39. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.59.
40. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.59.
41. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.60.
42. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.60.
43. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.69.
44. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.70.
45. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.69.
46. Chris Ray – Vietnam Reconsruction and the Chinese Invasion, Australian Radical Publications, Sydney 1979, tr.74.
47. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.71-72.
48. Philippe Devillers – Nouvel Observateur ngày 14.1.1979 cho rằng Pol Pot có 22 sư đoàn và 20.000 quân nhân Trung Hoa ngụy trang dưới lốt chuyên viên kỹ thuật.
49. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.90-91.
50. Báo The Australian ngày 26.2.1979 ghi nhận: “Nguồn tin từ giới tình báo Mỹ cho biết là không dưới 17 sư đoàn Trung Hoa với 225.000 người đã được phát hiện dọc biên giới Việt – Hoa.
51. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.92.

Ý Kiến bạn đọc