Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Ải Nam Quan và sự thật chuyện“Cộng sản Việt Nam dâng đất cho Trung Quốc”

Kỳ 3

Hiểm họa biên giới

Trong một liên hệ cơm không lành canh không ngọt giữa hai nước, biên giới là mối họa chính. Nước lớn bao giờ cũng khai thác điểm này để gây hấn với luận điệu đối phương quấy phá chiếm đất nên gia chủ phải ra tay tự vệ giành lại. Nhưng biên giới của Trung Quốc với Việt Nam xuống tận đâu?

Quyển Sơ lược lịch sử Trung Quốc hiện đại, xuất bản ở Bắc Kinh năm 1954 cho rằng vùng Đông Nam Á – cụ thể là Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan là những vùng đất của Trung Quốc bị nước ngoài chiếm mất. Thực tình, với quan niệm biên giới đó, Trung Quốc muốn phát động chiến tranh đòi lại đất đai bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào ở Đông Nam Á mà chẳng được. Thế nên, trước khi bùng nổ cuộc chiến Việt – Hoa ngày 17.2.1979, Trung Quốc đã “đưa thêm quân ra vùng biên giới Việt – Hoa, tăng cường những vụ khiêu khích vũ trang chiếm lãnh thổ Việt Nam… tạo nên tình hình thường xuyên căng thẳng…” (cho nên) nếu vụ khiêu khích lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam của Trung Quốc năm 1975 là 234 vụ, gấp rưỡi năm 1974, thì năm 1978 tăng vọt lên 2.175 vụ, gấp 10 lần (52). Nhưng mối nguy không phải chỉ ở đó thôi. Vì cũng theo lời than thở của Bộ Ngoại giao Việt Nam thì cuộc chiến biên giới chính thức chấm dứt ngày 5.3.1979, nhưng mãi cho đến tháng 10.1979 – nghĩa là 7 tháng sau ngày ngưng chiến rút quân, Trung Quốc vẫn “tiếp tục chiếm đóng hơn 10 điểm trên lãnh thổ Việt Nam, xây dựng thêm công sự ở các nơi đó, vi phạm trắng trợn đường biên giới do lịch sử để lại mà cả hai bên đã thỏa thuận tôn trọng. Suốt dọc biên giới Việt – Hoa, họ tiếp tục bố trí nhiều quân đoàn có pháo binh và thiết giáp yểm trợ, tăng cường các phương tiện chiến tranh, ra sức xây dựng các công trình quân sự, thường xuyên diễn tập quân sự, tung các đội thám báo, biệt kích xâm nhập nhiều khu vực của Việt Nam. Không ngày nào họ không gây những vụ khiêu khích vũ trang, nổ súng, gài mìn, bắn giết nhân dân địa phương. Có nơi họ cho bắn súng cối hạng nặng suốt ngày, có nơi họ cho một tiểu đoàn quân chính quy tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam hơn 4km, bắn giết dân thường, đốt phá nhà cửa và phá hoại hoa màu. Có nơi từng tốp máy bay Trung Quốc bay sâu vào vùng trời Việt Nam từ 8 đến 10km… nhiều lần đe dọa “cho Việt Nam một bài học thứ hai”, thậm chí “nhiều bài học nữa”. (53)

Nha-to-hai-tang-ben-trai-la-Muc-Nam-Quan-tram-nho-phia-truoc-la-ai-Bac-Quan
 Nhà to hai tầng bên trái là Mục Nam Quan. Trạm nhỏ phía trước là ải Bắc Quan. Ảnh: nhatbaovanhoa.com

Dọc ranh giới đất liền đã thế, còn lãnh hải thì sao? Tài liệu chính thức là quyển Bản đồ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa do Bắc Kinh ấn hành năm 1973, xác định lãnh hải của Trung Quốc ở phía Nam chạy dọc bờ biển Việt Nam, vùng Bắc Calimantan của Mã Lai, và Phi Luật Tân (54). Việt Nam không thể không biết rằng vì quan điểm lãnh hải đó mà “Trung Quốc thường nhắc đến “chủ quyền” của họ đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đầu năm 1974, với sự đồng tình của Mỹ, họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, bộ phận lãnh thổ của Việt Nam, để từng bước kiểm soát biển Đông, khống chế Việt Nam và toàn bộ Đông Nam Á, đồng thời khai thác tài nguyên phong phú ở vùng biển Đông”. (55)

Những điều vừa kể chứng tỏ cho đến bây giờ giữa Việt Nam và Trung Quốc chỉ có những đường biên giới do lịch sử để lại mà cả hai bên đã thỏa thuận tôn trọng, nghĩa là những quy định về ranh giới giữa nhà Thanh và Pháp như Bộ Ngoại giao Việt Nam nói (56). Những đường biên giới đó cả Trung Quốc và Việt Nam hôm nay đều có thể phớt lờ nếu thấy có lợi cho mình. Cho nên, Việt Nam thực sự cần có một ranh giới Việt – Hoa rạch ròi trên đất liền cũng như trên biển cả để chính thức thay thế “đường biên giới do lịch sử để lại” đó. Đạt đến những hiệp định về một đường biên giới mới trên bộ cũng như trên biển giữa hai quốc gia có chủ quyền, giữa hai chính quyền có tự quyết – chứ không phải như quan hệ Pháp – Hoa hồi cuối thế kỷ XIX – là điều cốt tử cho Việt Nam. Muốn đạt đến điều đó, Việt Nam không thể “cả vú lấp miệng em” như thực dân Pháp mà cũng không thể “nhũn như con chi chi” như triều đình nhà Thanh ngày trước. Nếu đã lấy lại đất nước từ tay Pháp – Mỹ được, đã giữ được đất nước trong trận chiến biên giới Miên – Việt và Hoa – Việt được, thì đương nhiên cũng phải cố giữ và giữ được đất nước trên bàn hội nghị về biên giới.

Cho đến bây giờ (29.10.2008), Việt Nam chỉ mới đạt được thỏa thuận với Trung Quốc về biên giới trên bộ bằng cách chia đôi 227km2 đang tranh chấp tại 164 điểm trải dài trên khoảng 400km biên giới, theo tỷ lệ VN: 113km2 và TQ: 114km2. Điều này được hai bên thỏa thuận ngày 30.12.1999 như chính quyền Việt Nam xác nhận. (57)

Vấn đề lãnh hải thì vẫn còn lòng thòng. Hoàng tôi đã lầm khi trộm nghĩ vấn đề lãnh hải có thể được giải quyết trong chuyến viếng thăm Việt Nam của Chủ tịch Giang Trạch Dân hồi cuối tháng 2.2002. Sau khi Chủ tịch Giang Trạch Dân ra về hơn tháng rưỡi thì Ngoại trưởng Nguyễn Di Niên cho Quốc hội biết là vấn đề vẫn chưa xong. Chủ tịch Giang Trạch Dân phải ra về tay không như vậy cũng là một điều vừa bối rối vừa gay cấn cho cả Trung Quốc và Việt Nam. Và phải chăng vì gay go như vậy nên chính quyền Việt Nam mới cần đến một thứ tinh thần Diên Hồng mặc nhiên của dân chúng cả trong nước lẫn ngoài nước? Ngay cả số người chẳng thích gì Nhà nước Việt Nam vì một lý do nào đó.

Thật vậy, chưa có một vấn đề nào đã vận dụng được thế nhất trí của người Việt bằng vấn đề bảo vệ lãnh thổ. Đề tài bảo vệ lãnh thổ là một quang phổ biểu hiện mọi màu sắc chính trị. Từ những cây viết nghiêm túc kẹt nhưng vẫn cố lách như Nguyễn Ngọc Bích, Ngô Nhân Dụng, Phạm Xuân Đài, Trần Bình Nam đến những chính khách lẩm cẩm ham nói như Nguyễn Chí Thiện hay Tôn Thất Thiện, Lâm Lễ Trinh và công ty “Phù Chí sĩ”. Từ những bậc chân tu thượng thủ chuyện chuông mõ nhưng lơ là chuyện thế trị để cho sư tử trùng và những kẻ nằm vùng mượn tên mượn báo của mình làm chuyện mượn Sư cúng… Đấng Tạo Hóa đến những người từng chủ trương chia cắt đất nước vĩnh viễn, từng hô hào Mỹ oanh tạc miền Bắc, từng to tiếng phản đối Mỹ ngưng oanh tạc. Từ những kẻ từng vỗ tay hoan hô Mỹ siết chặt cấm vận đến những người từng vui mừng hồi hộp chuẩn bị chờ “đất nước sạch bóng quân thù” để trở về khi trận chiến biên giới Hoa – Việt bùng nổ. Từ những kẻ không còn muốn biết mình cắt rốn chôn nhau ở đâu đến những người từng hân hoan reo hò “Đó! Thấy chưa!…” mỗi khi nghe tin thiên tai nhân họa giáng xuống trên đầu trên cổ đồng bào mình trong nước. Từ những người quyết làm chuyện đội đá vá trời ngót 20 năm không biết lãnh tụ của mình sống hay chết như Trần Xuân Ninh (58) đến những người trước nay vẫn quen với lối suy nghĩ kiểu “thà mất nước không thà mất… Đấng Tối Cao” như Nguyễn Gia Kiểng (59), Nguyễn Văn Chức và đồng bạn (60)… Phải chăng ý thức bảo vệ lãnh thổ có tác dụng tổng động viên như thế nên tin Trung Quốc ép buộc Việt Nam nhượng đất nhượng biển được tung ra trước khi Chủ tịch Giang Trạch Dân đến, và tại sao Trần Khuê và đồng bạn chỉ nhắm đến Bộ Chính trị Lê Khả Phiêu chứ không trực tiếp tấn công những nhà lãnh đạo Việt Nam hiện tại?

Có dư luận cho rằng Trung Quốc đã dùng vấn đề mà Trung Quốc từng gọi là “nạn kiều” – hay vấn đề “đánh” tư sản mại bản Chợ Lớn và “đuổi” Hoa kiều ở ngoài Bắc về nước – để làm áp lực với Việt Nam trong các quan hệ với Việt Nam, kể cả thương lượng về biên giới. Nhưng chuyện Chủ tịch Giang Trạch Dân ra về mà chưa giải quyết xong vấn đề lãnh hải phải chăng đã chứng tỏ lo như vậy là lo hơi… xa? Mặt khác, trước khi Chủ tịch Giang Trạch Dân đến, Việt Nam đã nhắc đi nhắc lại sẽ không tái tục hợp đồng Cam Ranh với Nga mà cũng không cho Mỹ thuê Cam Ranh. Trung Quốc có muốn thuê Cam Ranh không? Không ai biết, nhưng một vài chi tiết tưởng cũng đáng ghi nhận. Thứ nhất, ngày nào Mỹ còn sử dụng con tẩy “bảo vệ Đài Loan” bằng Đệ thất Hạm đội thì ngày ấy cạnh sườn phía Đông và phía Nam của Trung Quốc vẫn còn bị hăm dọa, trầm trọng hơn nữa là nếu Mỹ được quyền sử dụng Cam Ranh hay các bến cảng khác của Việt Nam như Hải Phòng, Vinh, Đà Nẵng. Thứ hai, trong chuyến viếng thăm Việt Nam, Chủ tịch Giang Trạch Dân đã ra thăm Hội An, đi tắm biển và tuyên bố ông cảm thấy “an toàn” ở đây. Hội An là một trong những trung tâm định cư đầu tiên của Hoa kiều, Hội An không xa Hoàng Sa và cũng không xa Chu Lai là nơi Mỹ từng đổ quân lên Việt Nam đầu tiên. Phải chăng Chủ tịch Giang Trạch Dân muốn nhắn gởi rằng ông đã không muốn dùng chuyện nạn kiều để làm khó Việt Nam thì Việt Nam cũng đừng dùng Cam Ranh – Hoàng Sa như những con bài tẩy trong ván bài “biên giới” để làm khó Trung Quốc?

Làm sao cắt nghĩa được Tình yêu?

Hoàng tôi đã trích dẫn khá nhiều những thông tin và nhận định về vụ xung đột biên giới theo quan điểm của Nhà nước Việt Nam. Bởi vì Nhà nước Việt Nam là người trong cuộc, có chuyện gì xảy ra thì Nhà nước này – và đồng bào trong nước, phải trực tiếp đối phó và lãnh đủ trước tiên như trong trận chiến Biên giới năm 1979 chẳng hạn. Những điều trích dẫn đó có bao nhiêu phần sự thật?

Vốn không có thái độ sô-vanh hay dân tộc quá khích đối với Trung Quốc, Hoàng tôi ước mong những điều Việt Nam than thở chỉ là quá khứ của “5 năm qua” – 1975-80 (61) như lời bạch thư xác nhận. Hoàng tôi cũng ước mong vụ biên giới năm 1979 chỉ là một quá khứ oan khiên giữa Đặng Tiểu Bình và Lê Duẩn. Rằng quá khứ đó đã theo hai nhân vật lịch sử này về bên kia thế giới. Tuy nhiên, vạn bất đắc dĩ quá khứ đó lại tái diễn cách này cách khác thì tất nhiên Hoàng tôi phải “thấy” người Việt đúng trước cái đã. Dù đó có thể là “thấy mù”. Ý thức dân tộc lắm khi nếu không là một bản năng thì ít ra cũng là một xung động hữu kiện, tương tự như ý thức tư hữu của con chó. Với ý thức tư hữu đó, con người thương gốc đa đầu làng thế nào thì con chó nhớ gốc cây mà nó đã đái vào để “đánh dấu” thế ấy, con người bảo vệ quê cha đất tổ thế nào thì con chó cũng sủa cắn người lạ để giữ nhà thế ấy. Ít ra là như thế…

Tình yêu nước không chỉ là lý trí, không phát xuất từ một nhận định khách quan khoa học. Cái lý của con tim thường phấn kích đam mê hoan lạc hay chịu đựng khổ đau hy sinh hơn là những chân lý hiển nhiên phổ biến. Galileo biết rõ trái đất quay nhưng khi bị Tòa Thánh dọa đem lên giàn hỏa là nói ngược ngay cái rụp! Trong những thời kỳ đất nước bị đọa đày ngoại thuộc, không thiếu gì trí thức khoa bảng Việt Nam lần lữa cả đời để chứng minh cho được tội ác của ngoại nhân là hiển nhiên khách quan khoa học như 2+2=4 rồi mới bắt đầu yêu nước – nghĩa là bắt đầu nghĩ đến chống lại ách ngoại thuộc… Những người này thường bình nhiên tọa thị khi nghĩ bàn đến những chuyện như Trung Quốc đô hộ Việt Nam, Pháp thống trị Việt Nam, Mỹ khống chế miền Nam oanh tạc miền Bắc… một cách khách quan lạnh lùng hay bàng quan khoa học như khi nói chuyện Hitler khởi động Đại Chiến thứ hai, hay Tần Thủy Hoàng xây Vạn lý trường thành, các vua Ai Cập xây Kim tự tháp. Thế nên, phần đông số đó đã trễ tàu yêu nước để vừa an nhiên với cuộc sống phúc lợi an toàn, hạnh phúc êm ấm, vừa được tiếng là khách quan, ôn hòa, đề huề, không cực đoan quá khích, vừa khỏi lao vào đường nhục nhằn tù tội đọa đày. Ai chết mặc ai, ai ngu ráng chịu. Những người lính VNCH phải xâm trên cánh tay mấy chữ TQLC Sát Cộng, ND Sát Cộng, BĐQ Sát Cộng… Có ông Úy, ông Tá, ông Tướng nào chỉ huy các binh chủng đó, có ông Tổng thống, Thủ tướng, Bộ trưởng, Tổng Giám đốc, Nghị sĩ, Dân biểu nào xâm mấy chữ đó trên cánh tay hay ngay cả nơi những… chỗ kín, để gọi là ta đây quyết sống chết như những người đang hạnh phúc vì yêu hay đang khổ đau vì dang dở?

Giả dược quốc gia

Một số người tự nhận là “quốc gia” thường nhìn Nhà nước Việt Nam như cái đòn kê, như tấm thớt để tỏ bày hờn giận hận thù. Vì trước tiên, ồn ào tỏ ra hận thù kiểu đó nhiều khi chẳng mất vốn mà lại rất nhiều lời. Vụ Trần Trường là một ví dụ. Thứ nữa, không ồn ào tỏ ra hận thù như vậy thì không đúng “mốt” Quốc Gia. Nhưng muốn cho đúng mốt thì lại trở thành càm ràm, bắng nhắng, lẩm cẩm. Chuyện biên giới là một ví dụ. Qua chiến tranh biên giới đã qua và cuộc thương lượng gay go về vùng trời vùng biển hôm nay, nếu những người Mác-xít thân Trung Quốc đã thấy rõ được điểm tương đồng giữa Đặng Tiểu Bình và chủ trương sô-vanh nước lớn của một số triều đình thời Hán, Nguyên, Minh, Thanh đối với Việt Nam thì tại sao một số người quốc gia Bốn Không lại không thấy được những điểm tương đồng lịch sử giữa Pháp và Mỹ đối với Việt Nam? Lại không thấy được rằng cái gọi là Ý thức hệ Quốc gia chỉ là một giả dược – placebo – chính quyền Pháp dùng để phấn kích những người lính “lê dương” bản xứ trong chiến dịch tái chiếm Đông Dương sau năm 1945 và chính quyền Mỹ thế chân Pháp, lại tiếp tục sử dụng lại giả dược đó cho những chiến sĩ Tiền đồn Thế giới Tự do mà thôi? Thật vậy…

Một, Pháp dùng giả dược đó 9 năm -1946-1954, Hoa Kỳ cũng thực sự dùng giả dược đó được 9 năm – 1964-1972.

Hai, lực lượng viễn chinh Pháp dùng những Giám mục Pigneau de Béhaine, Puginier, Lê Hữu Từ, Linh mục Trần Lục, Linh mục kiêm Đô đốc d’Argenlieu… Mỹ dùng Giám mục Phạm Ngọc Chi, Linh mục Hoàng Quỳnh, Linh mục Nguyễn Lạc Hóa… Hồng y Spellman ban phép lành cho những người lính Mỹ sang diệt quỷ đỏ ở Việt Nam, Giám mục Pellerin là tuyên úy, cố vấn chính trị quân sự – nghĩa là một thứ chính ủy – cho hạm đội 14 chiến thuyền của Đô đốc Rigaul de Genouilly tấn công Đà Nẵng. (62)

Ba, Pháp khởi sự chiến dịch xâm lược Việt Nam bằng “Vụ Đà Nẵng” năm 1856 với chiến thuyền Catinat (63). Mỹ khởi sự chiến dịch Mỹ hóa chiến tranh bằng “Vụ Vịnh Bắc Việt” với chiếc Maddox năm 1964. Để phát động cuộc chiến, Pháp đổ bộ Đà Nẵng năm 1858, Mỹ đổ bộ Chu Lai – Đà Nẵng năm 1965.

Bốn, năm 1947, Pháp dùng chiến thuật Lùng – Diệt để khủng bố và trừng trị những ai theo “Việt Minh” và thanh lọc bạn thù bằng câu hỏi: “Việt Minh? Việt Nam?”. Năm 1968, Mỹ dùng chiến dịch Phụng Hoàng để khủng bố và trừng trị những ai theo “Việt Cộng” và thanh lọc bạn thù bằng câu hỏi: “Việt Cộng? Quốc gia?”. Khối người chết oan vì cái giọng Việt Nam lơ lớ của mấy ông Tây, ông Mỹ cũng như vì cái tật gật đầu nói “vâng dạ” trước khi lắc đầu nói “không” của chính người Việt!

Năm, Tướng Navarre của Pháp chủ trương dùng chính trị để chiến thắng, nghĩa là dùng người Việt trị người Việt. Đại tá Lansdale của Mỹ là người đầu tiên thực hiện Việt hóa chiến tranh. Cuối cùng, cả Pháp và Mỹ đều từ bỏ chính trị, dùng Lùng – Diệt để Việt hóa chiến tranh và dọn đường tháo chạy.

Sáu, Pháp chủ trương dùng không lực – kể cả lực lượng Nhảy dù – để chiến thắng ở Điện Biên Phủ. Mỹ cũng chủ trương dùng phi pháo để bẻ gãy xương sống của đối phương.

Bảy, năm 1954, Việt Minh lấy đại pháo chống lại không lực của Pháp. Năm 1970, miền Bắc dùng đại pháo và hỏa tiễn để chống lại phi pháo của Mỹ.

Tám, cả Pháp và Mỹ cuối cùng đã phải bỏ cuộc đầu hàng trong những trận Điện Biên Phủ chính trị ngay tại hậu phương của mình. Sau 9 năm tự tung tự tác (1946-1954), Pháp bỏ miền Bắc, nhảy lên tàu há mồm vào Nam. Mỹ sau 9 năm tự tung tự tác (1964-1973) leo lên nóc nhà bỏ đi. Pháp dùng hải quân để di tản những người trung thành với mình vào Nam, Mỹ dùng hạm đội 7 để di tản những đồng minh nhỏ của mình đến bến bờ an toàn trước cơn đại hồng thủy 30.4.1975.

Trước những tái hồi lịch sử bi hài đó, một số nạn nhân của giả dược Quốc gia hẳn phải tỉnh người ra. Đáng nói là tỉnh ra để đi tới, để thấy rằng điều cần thiết cho Việt Nam là ý thức hệ Dân tộc thì đàng này những người đã ghiền giả dược này chỉ đi thụt lùi, biến ý thức hệ Quốc gia trở thành ý thức hệ Tuyệt vọng của những kẻ bị chứng loạn thị. Vì vậy, cuộc chiến biên giới năm 1979 và cuộc tranh chấp biên giới hiện nay lý đáng là cuộc chiến và tranh chấp Việt – Hoa thì lại trở thành cuộc chiến và tranh chấp Quốc – Cộng giữa người Việt với người Việt. Số người tự nhận là quốc gia này đã yêu nước bằng cách theo Pháp, theo Mỹ, bây giờ họ yêu nước bằng cách theo Trung Quốc, ước mong Trung Quốc “dạy” cho Việt Nam thêm vài bài học nữa.

Một điều bi hài nữa của chiến dịch tố khổ tội “dâng đất” là những chuyên viên đối kháng hải ngoại bảo rằng họ có được những người đối kháng trong nước tiết lộ những chi tiết dâng đất đó thì các chuyên viên đối kháng trong nước lại bảo là họ biết được những tin tức đó nhờ theo dõi các website của đồng bào hải ngoại. Trong khi một số người nước ngoài đối kháng như một nghề – cựu Đại tướng Nguyễn Khánh mới đây gọi là những kẻ làm nghề chống Cộng – thì một số người trong nước lại đối kháng như một thời trang. Trước sau họ sẽ thấy rằng mẫu số chung của cái nghề và cái thời trang này là ý thức vọng ngoại thỏa hiệp và ý hướng biện minh cho hành động bán nước từ 200 năm nay của một số người.

Tạm thay kết luận

Dù đứng ở điểm nào đi nữa, cuối cùng cũng phải thấy rằng, đụng đến chuyện tự chủ tự quyết, ngoại quốc nào cũng là ngoại quốc thôi. Cảm nghĩ đó có vẻ ngược với ý thức đại đồng của Khổng, với quan điểm vô sản quốc tế của Marx, với ý niệm cứu rỗi toàn nhân loại của Jesus hay ý niệm Phật tính không có Nam có Bắc của Phật giáo, và với khuynh hướng thời thượng Toàn cầu hóa hôm nay. Nhưng một người Việt muốn làm đồ đệ chân chính của Khổng, của Marx, của Jesus, của Phật, của nhà băng thế giới IMF và Quỹ tiền tệ quốc tế WTO thì trước tiên người đó phải là một người Việt “thật”, ít ra cũng “thật” như con chó ghếch chân tưới vào gốc cây để “giữ” gốc cây, hay sủa để “giữ” nhà?

Ừ nhỉ! Cảm nghĩ đó khiến Hoàng tôi liên tưởng đến một sự cố có thể coi là “định phận”. Thật vậy, thời còn học Tiểu học trường Pellerin Huế, Hoàng tôi được bạn bè tặng cho hỗn danh Thằng-N-Chó-Đái chỉ vì một đôi lần tôi bị thầy giáo thân yêu là Frère Maurice “thương cho roi cho vọt” vì tội… viết chữ N như con chó đứng… tè từ sau nhìn tới! Ôi, chuyện nước non thường là nghiêm túc đứng đắn nhưng cũng có khi lẩm cẩm đứng… đái như thế đó!

Trong bang giao quốc tế, có nhiều thỏa thuận giữa hai nước có thể là những thỏa thuận mật với những điều kiện nào đó. Có phải lý do duy nhất khiến Việt Nam tạm thời giữ kín các thỏa hiệp về lãnh thổ và lãnh hải vì đã nhượng bộ quá nhiều nên sợ dân oán trách tố cáo? Nhưng nếu Việt Nam phải giữ kín những thỏa hiệp đó vì Việt Nam đã “triều cống” quá nhiều đất nhiều biển cho Trung Quốc, thế còn Trung Quốc được “triều cống” quá nhiều, sao Trung Quốc lại cũng giấu kín mà không đem ra khoe để lấy điểm? Hay Trung Quốc không làm vậy vì sợ Việt Nam nổi giận đòi lại, hay nhờ quốc tế đòi lại? Càng hỏi càng thấy băn khoăn. Băn khoăn đó họa may chỉ được giải tỏa khi các thỏa hiệp về lãnh thổ và lãnh hải được giải mật. Bao giờ đây? Cho nên, biết đâu nếu bị Nguyễn Văn Đông chận hỏi: Chiều mưa biên giới anh đi về đâu? Không khéo Hoàng tôi lại chỉ có thể cúi đầu thì thầm: Ôi, biết trả lời sao? Như ca sĩ Thanh Tuyền hay Hoàng Oanh thường hát mà thôi!

Phong Trang, tháng Tư 2002
(Chuyển Luân số 27)
Australia www.chuyenluan.net

Hoàng Nguyên Nhuận
29 tháng 10, 2008
http://sachhiem.net/HOANGNN/Hoang16.php
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 454

———————-
Chú thích:
52. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Sự thật, Hà Nội 1979. tr.88-89. Chris Ray trong Vietnam Reconstruction and the Chinese Invasion, Australian Radical Publications, Sydney 1979, tr.69 thì cho rằng: Trong năm 1978, Việt Nam loan báo rằng Trung Quốc đã vi phạm lãnh thổ Việt Nam 583 lần, không phận 100 lần và hải phận 481 lần.
53. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.92-93.
54. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.13-14 và phụ lục 2 và 3.
55. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.18.
56. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.92.
57. Diệu Vân – Phỏng vấn Thứ trưởng Ngoại giao Lê Công Phụng, Việt Luận, Sydney 8-2-2002.
58. Nguyễn Gia Kiểng – Hận Nam Quan ngày xưa, hận Nam Quan ngày nay (Việt Luận 18.1.2002), Lê Chí Quang một biểu tượng (Việt Luận 5.4.2002).
59. Nguyễn Văn Chức – Sứ mạng của chúng ta, người Việt tỵ nạn – Hội Cao Niên VN Colorado, Đặc san xuân Nhâm Ngọ 2002.
60. Trần Xuân Ninh – Phỏng vấn đặc biệt của VNN, Dân Việt, Sydney 18.4.2002.
61. Bộ Ngoại giao CHXHCNVN – sđd. tr.99.
62. Nguyễn Thế Anh – Việt Nam thời Pháp đô hộ, Lửa Thiêng, Chợ Lớn 1970, tr.22.
63. Phan Khoang – Việt Nam Pháp thuộc sử, không ghi nơi tái bản, 1961, tr.109.

Ý Kiến bạn đọc