Tản văn

Miền lửa cháy

Đất nước ta ở bất kỳ nơi nào cũng có thể có “một thời hào hùng” trong chiến tranh. Nhưng có lẽ mảnh đất làng Như Lệ (xã Hải Lệ, thị xã Quảng Trị) thì mới thật sự xúc động là một miền lửa cháy. Cháy đến xác xơ và anh dũng vô cùng trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước.

Chỉ tính từ 10/6/1972 – 27/1/1973 thôi thì mật độ bom đạn Mỹ và sự giao tranh ác liệt của trung đoàn tôi E165.F312 với 3 lữ đoàn dù Ngụy Sài Gòn cộng thêm sư đoàn thủy quân lục chiến có 15 thiết đoàn xe tăng bọc thép Mỹ đã chà nát Như Lệ, Tích Tường ra từng mảnh đất tơi xốp… (nhớ 1975, tướng Lê Nguyên Vĩ – sư trưởng sư 5 Ngụy và đại tá “Của” tỉnh trưởng Bình Dương 1972 cũng vấp phải sư 312 của ta và kết thúc số phận sư 5 Ngụy cũng là do 312 vào 4/1975). Sự hy sinh thương vong của 2 phía tại Như Lệ trong 7 tháng trời (6/1972 – 1/1973) phải lên đến 10.000 người… Không kể 31 ngày đêm chiến đấu trong thành cổ Quảng Trị 1972 cùng tiểu đoàn 5 trung đoàn 165 thì sự hy sinh của trung đoàn tôi E165.F312 đã lên đến 4.000 chiến sĩ. Đó là sự chiến đấu dũng cảm của các tiểu đoàn 4, 5, 6… và hàng chục đại đội hỏa lực cùng các đơn vị phối thuộc của các sư đoàn 304, 325, 324, 308… tại Như Lệ 1972 oai hùng khốc liệt. Riêng khu vực động Ông Do 14km2 mà địch nã pháo và rải thảm B52 lên đến 600 tấn/km2. Địch cày tung đất đá ở đây thành sa mạc, 40 năm qua trơ trốc đỏ lòm không tài nào tìm nổi xác đồng đội nữa. Có nhiều chiến sĩ chốt ở động Ông Do chết đi chết lại đến 5, 6 lần vì bom pháo Mỹ. Nhiều trận ta mất trắng chốt, bị địch cướp lại chốt quăng xác liệt sĩ xuống chân chốt lấy xăng đốt cháy khét lẹt 2-3 ngày liền. Là một người lính trinh sát, tôi thường được chứng kiến cảnh đó mà lòng đau thắt lại.

Như Lệ! Như Lệ đây rồi! Em vẫn xinh tươi như 40 năm trước, như ngày nào ra vào Như Lệ – Ơi cô du kích Hải Lăng ơi! Em vẫn duyên dáng và đẹp đẽ tới mê hồn, cô gái Như Lệ ơi! Có phải mái tóc em thơm mùi dầu dừa còn đọng mãi trong tim anh. Có phải em cùng anh xông lên theo xe tăng tấn công địch tại làng Như Lệ vào đêm 10/8/1972 không? Phải em cô giáo nhỏ đang đi lên lớp kia không? Con gái em đấy (tiếng vọng của hồn em theo cây cỏ xanh non tơ vọng từ quá khứ cứ sục sôi trái tim anh. Em Trà ơi!).
Ta khỏa chân xuống dòng Thạch Hãn dưới trăng mờ. Lờ đờ đâu đó có hồn liệt sĩ hiện về. Hơn 100 linh hồn của tiểu đoàn 5 nằm ở đây khi vượt sông vào thành cổ Quảng Trị tháng 7/1972. Những cái tên thân yêu cứ vang vọng mãi ở trong ta mà Thạch Hãn bên làng Như Lệ là một sự chứng kiến cùng quá khứ… Minh ơi… Định ơi… Hiền ơi… Hùng ơi… Hảo ơi… Lại ơi… Nghĩa ơi… những chiến sĩ trinh sát thân yêu xuất sắc của ta ơi của trung đoàn ơi! Tao vào tìm chúng mày đây! Chúng mày có linh thiêng thì hiện về để tao và đồng đội 312 đưa chúng mày về quê Bắc chúng mày ơi!

Như Lệ ta đánh giặc giữ chốt, rồi mất chốt: Đồi Cháy, cao điểm 134, 165, 99… Đá Đứng. Ta và địch ngày ngày thay nhau cướp chốt. Những chiếc mũ sắt văng lốp bốp. Những chiếc mũ tai bèo lỗ chỗ vết đạn. Xác ta xác địch nằm ngổn ngang la liệt. Ta phải giữ chốt bằng bất cứ giá nào ở phía Nam sông Thạch Hãn trên một tuyến dài 25km, để tạo thế trận cho sự phát triển giải phóng Quảng Trị. Địch tìm mọi thủ đoạn (chủ yếu là bom, pháo từ hạm đội 7 bắn vào) để giữ thế cân bằng trên phòng họp Paris 1972 và nhằm tiêu hao sinh lực ta. Cho nên sắt thép và ý chí chiến đấu diễn ra ở Như Lệ thật khốc liệt và tàn bạo. Nhiều trận đánh giáp lá cà bằng lưỡi lê xảy ra như cơm bữa ở Như Lệ. Nhớ hai đồng đội trinh sát Minh, Định khiêng thương binh bị pháo phạt chết liền (thương binh nằm trên cáng vẫn sống). Anh chàng thương binh ấy năm nay 65 tuổi, 6 con sống khá cực khổ tại làng Nhớn, huyện Bảo Thắng, Lào Cai. Tôi đã trực tiếp đi làm chế độ thương binh cho anh ta vì anh ta không còn biết gì cả (vết thương trong sọ não).

14-9 fix.png
Cha con ông già ngư dân Quảng Trị không quản nguy hiểm 
ngày đêm đưa bộ đội vào Thành cổ chiến đấu, 1972.

Đồi Cháy đây rồi! Cả đại đội 9, tiểu đoàn 6 không còn một người nào lành lặn. Đại đội 9 thân yêu ơi! Các anh đã thay áo cả đại đội tới 5 lần khi tiêu diệt được một đại đội thám báo ở làng Như Lệ. Trận 10/8/1972 là trận đánh quyết liệt có tính “thử nghiệm” cùng sư 312 đã rút ra bài học cho các trận đánh sau này với Ngụy Sài Gòn (tổng số quân của tiểu đoàn 6 thực sự hy sinh ở Như Lệ phải lên đến 2 đại đội mới tiêu diệt được một đại đội thám báo của địch – mà chủ yếu hy sinh vì pháo địch từ hạm đội 7 nã vào, còn thực sự chiến đấu “đối mặt” thì Ngụy Sài Gòn không thể lại với sư 312). Các cán bộ cấp đại đội hy sinh hết. Còn một tổ 3 người, một trung đội trưởng và 2 tiểu đội trưởng vẫn đánh. Sau này hơn 30 năm sau, khi đi công tác ở nước ngoài tôi có gặp một số người bạn Mỹ, họ hỏi tôi: “Sao Việt Nam thắng Mỹ – Ngụy?”. Tôi trả lời họ: “Đơn giản thôi! Vì chúng tôi những chỉ huy đại đội đi trước, ngực quàng AK lưng đeo B40 xung phong lên trước, đảng viên hy sinh trước. Còn các ông thì sĩ quan từ cấp đại đội nằm ở phía sau!”. “Thế thì các ông thắng là phải”. Không! Nhân dân Việt Nam thắng Đế quốc Mỹ chứ” – Tôi trả lời một cách tự nhiên – câu nói đã ngấm vào máu thịt mình. Sư 312 của tôi đã tham gia chiến đấu 4 chiến dịch ở Thượng Lào 1969-1972. Các đối tượng tác chiến là: Lính Thái Lan, Ngụy Lào “rất dễ” bị sư tôi xẻ thịt. Lính công tử Thái Lan chỉ khư khư trong boong-ke lô cốt, lính Vàng Pao chưa đánh đã “lặn” nhanh như mèo. Lính Coong Ke phái hữu thì thấy sư 312 như là thấy cọp. Chỉ nghĩ thôi trong tim họ đã phải vỡ ra “Lính 312 đấy! Quân ông Chuông đấy, dũng cảm lắm, đánh hay lắm…”.

Vào Như Lệ anh em tôi đều đeo quân hàm trung sĩ, thượng sĩ Đông Dương cả. Nhưng thú thực “vấp” phải lữ dù Ngụy Sài Gòn 1972 cũng hơi “căng”. Từ lâu lắm rồi (4 chiến dịch rồi) lần đầu tiên tôi nghe thấy tiếng xung phong ở phía đối phương tại Như Lệ. Khi ấy chúng tôi hết đạn B40, địch tràn sang như thác lũ “quyết bắt sống bọn Việt cộng Bắc Việt”. Thú thực có anh em tân binh khóc và nao núng. “Không sợ!”, lính cựu binh động viên tân binh. Trong chiến đấu ai mà sợ chết thì sẽ chết. Ai không sợ chết sẽ chiến thắng. Cho nên chỉ cần chần chừ thì sẽ ăn lưỡi lê địch ngay. Ta phải chủ động tiêu diệt chúng trước…

Sau trận đánh 10/8/1972 ở Như Lệ, tôi, chiến sĩ trinh sát đi suốt từ Như Lệ, Tích Tường, Đá Đứng, động Ông Do, chùa Nga, Ba Gơ (lính gọi là đồi Cooc Xê Lệch) cho đến các cao điểm đẫm máu ta và địch ở 134, 165, 99… đến Khe Trai, Đường Tăng… nghĩa là chỗ nào có máu chảy là tôi đến, để xác định phục vụ và rút kinh nghiệm cho trung đoàn tìm cách đánh có hiệu quả với Ngụy Sài Gòn 1972. Nhiều trận phục vụ và trực tiếp chiến đấu dai dẳng ác liệt 7 tháng liên tục tơi bời khói lửa ở xã Hải Lệ này. Những trận đánh kết hợp bộ binh và pháo binh (ĐKZ) pháo 13 ly của mặt trận B5, ta phối hợp với thông tin, giọt cho tiểu đoàn Trâu điên của lữ dù 1 những trận đòn tơi tả. Những trận đánh xe tăng Mỹ mới thú vị làm sao. B40 hạ 12 chiếc xe tăng mang ký hiệu USA-Rmy… ĐKZ của ta bắn cháy xe tăng Mỹ cứ như là đốt một cái nhà táng khổng lồ, cứ như là đốt một quả bóng bing boong hàng tấn ấy, khói xanh lẹt. Địch cháy thui, càng pháo gục xuống. Khiếp quá! Địch rút chạy trước hỏa lực mạnh của ta. Phải công nhận B40, B41 nóng 1.0000C thì sức người sao chịu nổi. Vũ khí phương tiện chiến tranh quyết định số một ở chiến trường …

Những trận đánh lớn cấp đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn toàn mặt trận thật oai hùng kéo dài 1 chiến tuyến 25km ở Nam sông Thạch Hãn. Địch tập trung tới 3 lữ đoàn dù, có 15 thiết đoàn xe tăng ồ ạt phản công lại sư 312 của tôi. Họ chiến đấu cũng rất dũng cảm. Họ xông lên, chúng tôi dùng B40 bắn trả. Họ gục xuống, 15 phút sau lại tổ chức lên. B40 phụt! Họ gục! Rồi họ lại “bâu lại” như ruồi. Cứ như là không sợ chết hay sao ấy! Hàng trăm đợt phản kích của địch cũng làm ta tổn thất nặng nề. Nhiều trận ta thua địch thắng. Chúng tôi rút lui, củng cố rồi lại đánh trả. Trận T4, ta thiệt hại lớn, địch như là làm chủ 2/3 quả đồi ở động Ông Do. Không biết sức mạnh nào mà chúng tôi chiến thắng chiếm lại động Ông Do mới tài chứ. Sau này gặp Sư đoàn trưởng Nguyễn Chuông tôi mới rõ: “Tại động Ông Do, sư đoàn nã hàng ngàn quả pháo đấy con ạ!”.

Phải thừa nhận tôi đã tác chiến 3 chiến dịch ở Lào nhưng gặp cái lũ “Trâu điên” này cũng thấy chờn chợn. Họ cũng gào thét, cũng xung phong có kém gì ta đâu. Ngụy Sài Gòn đánh hay và xảo quyệt vô cùng. Chúng vừa ác ôn vừa gian manh trong từng trận đánh, trong từng chiến dịch. Chúng cũng sợ chết nhưng liều lĩnh hơn, gan dạ hơn lính Thái Lan và Ngụy Lào. Có nhiều trận tôi thấy mũ sắt địch lô nhô xông lên chốt. B40 – B41 của ta phạt đứt ngang đội hình địch. Chúng nằm phục xuống. Một lúc sau thằng nào sống sót lại vùng lên tiến công (nếu là lính mẹo Vàng Pao ở Lào thì đã bỏ chạy từ lâu rồi). Đằng này thằng chết thằng la ó hùa nhau “quyết tử với Bắc Việt” một cách điên cuồng… Trận ấy tôi túm được một tên tù binh người K’Ho quê Buôn Ma Thuột. Tên này ngoan cố lắm, lia cả một băng AR15 về phía tôi… Nhanh như hổ vồ mồi, tôi táng cho hắn một báng súng AK và tặng thêm một vết thương bằng lưỡi lê AK, đá tung hắn ngã 3 vòng liền mới chịu trói… (10/1972). Mười bảy năm sau tôi gặp lại người tù binh ấy ở Bình Dương. Cái sẹo ở má phải của anh ta lại đỏ tía lên và giật giật… Anh ta khai thật thà: “Đằng nào cũng chết… thì cứ chiến đấu đến cùng!”. Lại nhớ đến trận 10/8/1972, tên đại úy ác ôn ở Như Lệ vô cùng ngoan cố. Tôi gọi hàng tới 3 lần, hắn không hàng còn chửi lại “Đ.M Việt cộng”… bị ta tiêu diệt hết cả đại đội thám báo, chỉ còn 3 tên chỉ huy ngoan cố cứ nằm trong công sự bắn trả. Phần vì căm uất lũ bán nước này đã giết gần 2 đại đội của tiểu đoàn tôi, phần vì muốn kết thúc trận đánh sớm, tôi rướn người lên lia trọn một băng AK vào tên ác ôn. Hắn chết oằn oại trong vũng máu, mắt mở trừng trừng… 2 tên kia run rẩy giơ tay hàng… Địch thủ của ta cũng gớm thật! Sáng hôm sau địch cướp lại Như Lệ ta cả một tiểu đội hy sinh gần hết. Địch chốt lại một trung đội. Đêm xuống, một tổ 3 người vác B40 vào tiêu diệt trung đội ấy.

Tại cao điểm 134, địch dùng một tiểu đoàn Trâu điên lên cướp lại. Ta thương vong một trung đội. Địch cướp được chốt 134 tạo thế bất lợi cho trung đoàn tôi. Bên chốt 99 còn 3 chiến sĩ, địch bắt sống và chặt đầu cả 3 anh (ba anh quê Thái Bình và Hải Dương, nhập ngũ tháng 5/1972). Được lệnh trung đoàn, tôi dẫn trung đội đánh thốc lên “làm cỏ” cả trung đội địch và chôn cất 3 liệt sĩ (Ca, Nghiêm, Tú) thân yêu, dũng cảm của trung đoàn mình. Như Lệ, Quảng Trị 1972 là vậy đấy.
Những ngày cuối năm 1972, phong trào bắn tỉa của sư đoàn lại bùng lên sôi động. Lúc này ta và địch đều mệt mỏi, ai giữ chốt nấy. Địch đi lấy nước. Đoàng! Gục một thằng địch đi ra khỏi công sự. Đoàng! Gục một thằng nữa. Địch hoang mang. Cứ “tắc bọp” liền phát một ta đã xơi tái 157 tên ở các chốt địch. Vui quá tôi viết luôn bài thơ “Chiến sĩ bắn tỉa” để động viên bộ đội mình.

“Vai anh mang cây súng
Sơn bóng thơm mùi quai
Quay đi, rồi về lại
Dòng suối mát Khe Trai

Một sớm sương chưa tan
Chúng thúc nhau mà tới
Súng khắp nơi nổ ran
Thằng chết, thằng hấp hối

Sáng đẹp ánh mây trôi
Hay trời chiều xế bóng
Đánh xong anh lau súng
Ngắm súng lại nhủ lời
“Ta bên nhau súng nhé
Đánh cho địch tơi bời”
Tôi hỏi anh sao giỏi
“Mỗi viên đạn một tên”

Anh mỉm cười khẽ nói
“Do tập thể xây lòng”
Dưới mũ xanh giải phóng
Đôi mắt anh nheo cười.

Khe Trai của ta ơi
Niềm vui cùng chiến thắng
Anh nghe chăng đất trời
Đang dậy mùa săn giặc”

Vâng, tôi ca ngợi đồng chí Bùi Ngọc Lân đã diệt 101 tên lính dù Ngụy lữ dù 3 Sài Gòn. Trên cao đường 134, cao điểm 12 li 7, chiến sĩ bắn tỉa Nguyễn Văn Thành (trung đoàn 141, sư 312) diệt 15 địch. Còn Võ Văn Trí, 50 viên đạn diệt 49 địch. Ta còn dùng súng CKC, AK cũng “tỉa” hiệu quả ra trò. Bộ đội công binh dùng đầu đạn chưa nổ thu được của địch phóng vào cứ điểm, kéo địch ra cho đồng đội bắn tỉa. Thật là lính vô tư, đánh giặc cũng vô tư!

Ngày 27/1/1973, Hiệp định ngừng bắn. Ta và địch treo cờ trên chốt kế nhau khắp mặt trận Quảng Trị. Các tiểu đoàn 4, 5, 6 đập lợn kêu eng éc chọc tức địch trên các chốt. Gần Tết tôi được lệnh trung đoàn mang bánh kẹo sang thẳng chốt địch. Tên đại đội trưởng trẻ lắm nói: “Ước gì hòa bình, hai miền Nam Bắc hòa hợp anh Hai nhỉ?”. Tôi trả lời ngay: “Nhân dân Việt Nam nhất định thắng Mỹ” .

Mấy chục năm sau tôi gặp lại tên địch ấy ở cảng Bình Dương, lúc này anh ta đã có 5 con, có đứa học Đại học Sư phạm TP.HCM và đi làm luận án tiến sĩ lại do chính cháu trai tôi, một PGS-TS hướng dẫn. Anh lính nhắc lại câu nói của tôi “Việt Nam thắng Mỹ” một cách tự hào và rơi nước mắt. “Thế nào, vợ làm gì? Kinh tế ổn chứ!”, tôi hỏi anh lính Ngụy. Anh ta vô tư kể lể lại gia cảnh mình cứ như 2 người lính cũ ở 1 chiến tuyến ấy. “Vợ em làm thợ may và bán tạp hóa ngoài chợ Đông Hà anh à! Kinh tế tạm ổn, em thì lai rai trông nhà trông cháu anh à!”…

Nắng tắt dần trên mảnh đất máu lửa Quảng Trị… Tôi thấy thương thương người lính bên kia chiến tuyến nhưng lòng tôi lại đau xé khi nhớ về đồng đội của mình.
Mảnh đất Như Lệ ơi! Tôi đã đi đã đến đã thấy những đồng đội tôi. Họ ngủ 40 năm bây giờ mới thức, trên đầu họ là Tổ Quốc: Trời xanh cao thẳm vô cùng.
Nắng mưa ở Vũng Tàu như dội vào lòng tôi một nỗi niềm khôn tả. Tôi bay lên trên bầu trời đất Việt để nhớ về một miền lửa cháy. Miền lửa cháy cả một thời trai trẻ của tôi, của 4.000 liệt sĩ nằm lại Quảng Trị.

Vũng Tàu, tháng 9/2015

Đỗ Dũng
(P. Quang Triều, TP. Thái Nguyên)

Ý Kiến bạn đọc