Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

5T để có tác phẩm văn học hay

Hơn nửa thế kỷ trước, nhà văn tài danh Nam Cao đã từng mơ ước mình (và các nhà văn Việt Nam) sẽ viết được những tác phẩm văn học hay, trong đó có tác phẩm được Giải Nobel Văn học. Thế nhưng, văn học Việt Nam đến nay vẫn chưa có tác phẩm nào được giải thưởng cao quý mang tầm nhân loại ấy. Chỉ nói về “cái hay” – với cái “Tầm của Việt Nam” thôi – thì nhiều năm nay, văn học của ta ít có những tác phẩm hay. Đây là một “vấn đề lớn” của đời sống văn học đất nước.

Làm thế nào để có tác phẩm văn học hay? Câu hỏi này day dứt hằng ngày đối với các nhà văn và với mọi người yêu văn chương. Song, nhiều năm qua, chưa có ai tìm ra nguyên nhân, tìm ra giải pháp hoàn chỉnh. Đây cũng là một vấn đề có tính lý luận – phê bình văn học, cần làm sáng tỏ.

Theo tôi, để có tác phẩm văn học hay, mỗi người viết văn, đặc biệt là các nhà văn – phải đồng thời có “5 T” dưới đây. Qua báo Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh, tôi muốn tham gia lý giải vấn đề này.

1. Nhà văn phải có “Tâm” với nhân dân, với cuộc đời;
2. Nhà văn phải có “Tài”;
3. Nhà văn phải có “Trí”;
4. Nhà văn phải tiếp thụ được “Truyền thống văn hóa dân tộc”;
5. Vấn đề “Tự do sáng tác của nhà văn”.

1. Nhà văn phải có “Tâm” với nhân dân, với cuộc đời

Nhà văn đích thực – trước hết phải có “Tâm” với nhân dân, với cuộc đời.

Thi hào Nguyễn Du dạy rằng: “Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài” (Truyện Kiều) là rất đúng đắn, sâu sắc. Chữ “Tâm” là gốc thiện của con người. Chữ “Tâm” đồng nghĩa với chữ “Đức” và chữ “Thiện” – nó là nhân tố chính yếu nhất, tạo nên giá trị tốt đẹp của mỗi con người. Nói cách khác, chữ “Tâm” là cốt lõi của nhân phẩm!

Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức đề cao chữ “Đức”, chữ “Tâm”. Người dạy “Có Tài mà không có Đức, là người vô dụng”. Bác Hồ nói về “Thiện” và “Ác”: “Thiện, nghĩa là tốt đẹp, vẻ vang. Trong xã hội không có gì là tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân… Nếu hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thế là Thiện. Nếu chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không lo đến lợi ích của nước nhà, của dân tộc, thế là Ác” (Hồ Chí Minh – Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội – 2000, tập 8, tr. 276-277).

Lời nói của các bậc “Danh nhân văn hóa” khẳng định rằng: Con người chân chính trước hết phải có “Tâm”, phải là con người lương thiện. Bởi vậy, trong quan niệm “Văn học là nhân học” và “Văn là người”, thì với tư cách là chủ thể của sự sáng tạo văn học – nhà văn phải có “Tâm” với nhân dân, với cuộc đời.

Chữ “Tâm” không chỉ là lòng nhân ái, yêu thương con người và cuộc đời, mà bao gồm cả “ái, ố, hỉ, nộ” một cách đúng đắn, rõ ràng, nồng nhiệt; là lòng dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật và dám nói lên sự thật, bảo vệ chân lý. Nhà văn đúng nghĩa là nhà văn bao giờ cũng quan tâm trước hết đến đời sống, tâm tư của nhân dân lao động, đặc biệt là số phận những con người “dưới đáy” của xã hội; phẫn nộ trước những bất công xã hội. Điểm lại các nhà văn, nhà thơ lớn của Việt Nam và thế giới xưa nay, ta đều thấy chữ “Tâm” là điểm khởi phát và là nguồn động lực mạnh mẽ để họ sáng tạo các tác phẩm nổi tiếng. Nguyễn Du yêu thương nàng Kiều lương thiện, hiếu thảo; ca ngợi khát vọng yêu đương và khát vọng tự do của con người (qua Từ Hải); nhưng ông hết sức căm ghét lũ sai nha tay chân của bọn quan lại bất lương: “Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh/ Rụng rời khung cửi, tan tành gói may/ Đồ tế nhuyễn, của riêng tây/ Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham”; căm giận, khinh thị tên tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến với tính cách lật lọng và tội tày đình “sát phu, hiếp phụ”. Hồ Xuân Hương lên án chế độ đa thê và bảo vệ quyền lợi người phụ nữ: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/ Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng”. Có lẽ bà cũng là người đầu tiên trong văn học nước ta phê phán sự học đòi, thói sĩ diện rởm và lên án tệ bằng cấp rởm: “Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông/ Chúng bảo nhau rằng: Ấy… ái… uông”. Nguyễn Đình Chiểu hết lòng ca ngợi, xót thương các nghĩa sĩ Cần Giuộc hy sinh vì nước, vì dân, đồng thời cũng “ghét cay ghét đắng, ghét vào tận tâm” đối với bọn vua chúa, quan lại suy đồi, chỉ biết ăn chơi phè phỡn, đục khoét dân, làm hại dân: “Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm/ Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang/ Ghét đời U, Lệ đa đoan/ Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần” (Lời ông Quán – Lục Vân Tiên). Hồ Chí Minh thì dạy rằng: “Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp/ Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông/ Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong” (Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”, bản dịch). Bác còn dạy những người cầm bút: “Viết cho ai? – Viết cho đại đa số Công – Nông – Binh. Viết để làm gì? – Để giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng”, và: “Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu” (Bài Cách viết – 1953).

Nhìn ra văn học thế giới, cái “Tâm” của nhà văn được thể hiện rực rỡ qua chủ nghĩa nhân văn của văn học Anh thời Phục hưng, mà U. Sếchxpia là tác gia tiêu biểu nhất. Rồi V. Huygô, Ô. Bandắc (Pháp)…, Ơ. Hêminguê,
J. Lơnđơn (Mỹ)…; L. Tôn-xtôi, M. Gorki, C. Ximônốp, M. Sôlôkhốp (Nga)…; các tác giả của các tác phẩm tuyệt vời: Tam quốc chí, Thủy hử, Tây du ký, Hồng lâu mộng của văn học Trung Quốc… là những nhà văn điển hình của nhân loại thấm đẫm chữ “Tâm”! Những nhà văn lớn của những nền văn học vĩ đại của nhân loại đều đề cao sức mạnh chân chính của con người, bảo vệ con người lương thiện, đồng cảm sâu xa với những “số phận của con người” và lên án mạnh mẽ cái xấu, cái ác, kẻ xấu, kẻ ác. Văn hào Nga, L. Tônxtôi đã nói: “Nhà văn khi chấm ngòi bút vào lọ mực, phải để cả máu của mình ở trong đó”!

“Ái, ố, hỉ, nộ” của nhà văn đều phải “cháy” hết mình trên cơ sở phấn đấu không mệt mỏi cho cái Chân – Thiện – Mỹ, vì quyền lợi chính đáng và hạnh phúc của nhân dân. Đấy là “trái tim Danko” của nhà văn chân chính (Trái tim Danko – truyện ngắn nổi tiếng của văn hào Nga, M. Gorki). Những ngòi bút mang đậm chữ “Tâm” được nhân dân yêu thích, kính trọng. Không có cái “Tâm” đỏ thắm với con người, với nhân dân, với cuộc đời, thì không thể sáng tạo được tác phẩm văn học hay. Mặt khác, chỉ biết “yêu” mà không biết “ghét”, không dám căm giận, lên án cái xấu, cái ác; hoặc “yêu” và “ghét” không rõ ràng, chỉ hời hợt, lờ đờ nước hến, thì làm sao mà viết ra được tác phẩm có giá trị? Cho nên, có nhiều nhà văn, nhà thơ làng nhàng lâu nay chỉ loay hoay với những đề tài tình yêu sướt mướt, những câu chuyện “tầm phào” vô thưởng vô phạt, với những bài thơ… thẩn, đầy rẫy những “anh anh – em em”, thổn thức vì em đẹp, em xinh và những giọt nước mắt ủy mị, hoặc tô son vẽ phấn cho cây gỗ mục rồi xướng lên là gỗ sưa (gỗ huê) nghìn tỷ, hoặc là loại “tứ thiết”, để lăng-xê kiếm lợi, kiếm chức, kiếm danh, hoặc để lừa dối bạn đọc và để lòe thiên hạ. Các tác phẩm văn học tẻ nhạt, tuy xuất bản ồ ạt mà không có sức sống, mới ra đời đã bị lãng quên – do đấy mà ra.

2. Nhà văn phải có “Tài”

Chữ “T” thứ hai, để nhà văn sáng tạo được tác phẩm văn học (TPVH) hay, là chữ “Tài”. “Tài” bao gồm: năng khiếu và tài năng (nói chung) của nhà văn.

Khi Nguyễn Du viết: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”, là ông hết sức đề cao chữ “Tâm”, nhưng cũng không xem nhẹ chữ “Tài”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói tương đồng với tác giả “Truyện Kiều”: “Có Đức mà không có Tài, thì làm việc gì cũng khó”! Như vậy, “Tâm” (hay Đức, Thiện) là quan trọng nhất, và “Tài” cũng không thể xem thường. “Tâm” và “Tài” sóng đôi với nhau, mới tạo nên “con người hoàn toàn” – như cách nói của Bác Hồ, tức là mới tạo nên giá trị đích thực – tính toàn vẹn của nhân phẩm. “Tâm” là cái khởi phát và là động lực để con người đi tới thành công; còn “Tài” là phương tiện hữu hiệu để người ta đạt tới sự thành công ấy.

Trong chữ “Tài” của nhà văn, thì năng khiếu là yếu tố cực kỳ quan trọng. Năng khiếu văn học là những tố chất sẵn có của người viết văn, có tính chất bẩm sinh, giúp người đó có thể sáng tạo nên TPVH có giá trị – ngay cả khi người ấy chưa được học tập và rèn luyện về lĩnh vực văn học (như: lịch sử văn học, lý luận văn học, sự tiếp nhận văn học, phê bình văn học, cũng như các kỹ năng về sáng tác TPVH). Đại văn hào M. Gorki rất coi trọng “năng khiếu”. Ông từng thẳng thắn và chân thành khuyên các nhà văn trẻ Liên Xô trước đây: “Nếu anh (chị) không có năng khiếu văn học, thì tốt hơn hết là nên bỏ việc viết văn”! TPVH (nhất là các tác phẩm có giá trị cao – ĐNĐ nhấn mạnh) là sự kết tinh của tư tưởng và tâm hồn của nhà văn, là kết quả của trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo của nhà văn, và có thể nói là sự bùng phát ra của những tinh túy trong con người nhà văn, cho nên năng khiếu và tài năng của nhà văn là điều không thể thiếu.

Sự thật là, có nhiều người chưa được học hành gì về lĩnh vực văn học, nhưng do có “Tâm”, có cảm xúc mãnh liệt và suy nghĩ sâu xa trước một vấn đề của đời sống, một sự việc, một hiện tượng, một con người nào đó, mà anh ta (chị ta) không thể không viết nên thành lời! Nhạy cảm với hiện thực, có cảm xúc nồng cháy và tư duy sâu xa, kết hợp với trí tưởng tượng phong phú và khả năng sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, đã tạo nên TPVH có hồn, có cốt, được bạn đọc gần xa tiếp nhận, nâng niu. Sáng tạo được TPVH như thế, là do năng khiếu của người viết (nhà văn).

Là nhà văn có tên tuổi, thì cùng với năng khiếu bẩm sinh, phải có tài năng sáng tạo tác phẩm. Tài năng ấy bao gồm rất nhiều khía cạnh, như: tài hư cấu và tưởng tượng; tài xây dựng cốt truyện; xây dựng nhân vật và thể hiện tính cách nhân vật (nhất là các nhân vật chính); tài kết cấu tác phẩm (có rất nhiều hình thức kết cấu); tài năng sử dụng các biện pháp thể hiện trong TPVH (gồm: tự sự (hay lời kể chuyện), miêu tả, trữ tình và bình luận) và tài năng sử dụng ngôn ngữ (ví như thơ là ngôn ngữ trữ tình, hàm súc và giầu hình ảnh)… Mỗi một khía cạnh nêu trên của tài năng có nhiều hình thức biểu hiện và có những vấn đề lý luận không đơn giản, không thể nói hết trong phạm vi một bài báo. Chỉ đơn cử ví dụ: Khái niệm “cốt truyện” là một yếu tố cực kỳ quan trọng đối với các tác phẩm thuộc loại thể tự sự và kịch. Sáng tạo được một “cốt truyện” hay, hấp dẫn, phong phú các sự kiện và đa dạng tính cách các nhân vật – là điều không hề dễ. Đến mức đại văn hào M. Gorki đã nói: “Yếu tố quan trọng nhất của văn học là ngôn ngữ. Yếu tố thứ hai, là cốt truyện” (Vì ông là nhà văn chuyên viết các tác phẩm tự sự, truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch). Còn nhớ, mấy năm trước, trong một cuộc hội thảo quốc tế về phim truyện Việt Nam, tổ chức tại Hà Nội, vài nhà biên kịch và đạo diễn của Mỹ đã khuyến cáo: “Phim truyện Việt Nam (phim truyện nhựa và phim video) muốn bán ra thế giới và được khán giả tiếp nhận, trước hết phải có cốt truyện hay”! Cốt truyện bao gồm: các tình tiết (hay sự kiện), các nhân vật và hành động, lời nói, diễn biến tâm lý của nhân vật. Cốt truyện có thể được trình bầy theo nhiều hình thức, như: theo trình tự thời gian, theo lối đầu cuối tương ứng, theo đơn tuyến nhân vật, hai tuyến nhân vật đối lập, đa tuyến nhân vật, hoặc theo cách cốt truyện lồng cốt truyện… Một “cốt truyện hay” – trước hết không thể là một cốt truyện đơn giản, tẻ nhạt.

Tóm lại, là nhà văn (nhà thơ) có tên tuổi, nhà văn thật sự nổi tiếng, thì trên cái nền chữ “Tâm”, lại đồng thời phải có chữ “Tài” đích thực: Nhất thiết phải có năng khiếu văn học và các tài năng sáng tạo tác phẩm văn chương như trên đã trình bày.

3. Nhà văn phải có “Trí”

Chữ “T” thứ ba không thể thiếu để sáng tạo được TPVH hay, là nhà văn phải có “Trí”. “Trí” là khả năng nhận thức, ghi nhớ, suy nghĩ, phán đoán, nhận xét, đánh giá của con người đối với các biểu hiện của đời sống. “Trí” cũng là những hiểu biết có hệ thống về sự vật, con người, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội. “Trí” còn bao gồm cả trí tưởng tượng (đã nói trong phần viết về chữ “Tài”) và trí tuệ của nhà văn – tức khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định về một sự vật, hiện tượng, vấn đề hoặc con người trong hiện thực khách quan – cho dù tư duy của nhà văn chủ yếu là tư duy hình tượng. Nói tóm lại, chữ “Trí” của nhà văn là những hiểu biết rộng rãi về văn hóa, văn học, về đời sống đa dạng, là trí tưởng tượng phong phú và khả năng nhận xét, đánh giá của nhà văn đối với mọi biểu hiện của hiện thực khách quan. Nó còn là khả năng dự báo của nhà văn. Người xưa dạy rằng: “Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có sông núi kỳ lạ của thiên hạ, thì đừng nói đến viết văn”! Đấy là cái Trí của nhà văn.

Ai bảo làm thơ chỉ cần có cảm xúc? Mấy chục năm trước, nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định: “Người làm thơ cũng phải uyên bác chứ”. Ông khuyên các nhà thơ phải có những hiểu biết về văn hóa, văn học và đời sống một cách sâu rộng, thì mới có thể có thi phẩm hay. Chắt lọc từ cuộc sống muôn màu muôn vẻ, từ vốn sống phong phú của mình, lấy cái gì mình quan tâm nhất, rung động nhiều nhất, sẽ bùng phát tác phẩm thi ca có giá trị.

Mấy chục năm trước, nhà văn Nguyễn Công Hoan khi giảng dạy cho những người viết văn trẻ cũng nhắc nhở phải chịu khó tích lũy vốn sống, chịu khó ghi chép, thu thập nhiều tài liệu, để rồi khi sáng tác, thì lựa chọn, “đưa” những chi tiết, tài liệu thích hợp vào tác phẩm của mình. Tác giả “Bước đường cùng” còn dạy: Cần hiểu biết rất nhiều về cuộc sống; nhưng cũng phải biết “ăn dè”, biết tiết kiệm vốn sống và tài liệu trong mỗi truyện ngắn, tiểu thuyết, để viết được nhiều tác phẩm. Tương tự, nhà văn Tô Hoài đã từng “ba cùng” với người Mèo (Mông) ở vùng núi Tây Bắc thời chống Pháp mới viết được “Vợ chồng A Phủ”, và từng thu thập, chắt chiu những chi tiết, cảnh vật, truyền thống và con người Hà Nội bao nhiêu năm qua, đã tích lũy được một kho báu tri thức khổng lồ, rồi dùng trí tưởng tượng của mình để hư cấu, viết nên những tác phẩm về Hà Nội được nhiều thế hệ độc giả yêu thích.

M. Gorki, qua “Thời thơ ấu” và lang thang “Kiếm sống”, đã thu thập được nguồn tri thức cực kỳ đồ sộ và phong phú của đời sống xã hội nước Nga trước và sau Cách mạng Tháng Mười – mà ông gọi là “Những trường đại học của tôi”, để rồi từ đó, qua hư cấu và trí tưởng tượng, viết nên những tác phẩm xuất sắc, trở thành một đại văn hào của Liên bang Xô-viết.

Người viết có “Trí”, có vốn hiểu biết sâu rộng về đời sống xã hội, giầu trí tưởng tượng và biết nhận định, đánh giá đúng đắn, sâu sắc về các hiện tượng, chi tiết và nhân vật của hiện thực khách quan – tức là biết bình luận – thì tác phẩm mới có chiều sâu, mới cuốn hút và bổ ích đối với người đọc. Về mặt này, nhà báo Hoàng Tùng đã nói một câu rất hay: “Chỉ thông tin mà không bình luận, thì tác phẩm không có linh hồn”!

Thơ đã cần sự “uyên bác” của người viết, thì văn xuôi càng cần “uyên bác” nhiều hơn. Lý luận văn học tiên tiến của thế giới đã chỉ ra rằng: Mỗi cuốn tiểu thuyết (truyện dài) có giá trị – như một “cuốn bách khoa toàn thư của đời sống”. Người đọc tiểu thuyết (có giá trị) không chỉ thấy số phận và “thế giới nội tâm” của các nhân vật, những sự việc, hiện tượng và cảnh vật được miêu tả, mà còn hiểu biết được nhiều lĩnh vực, các tri thức về kinh tế, ngành nghề, cả những kiến thức về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội (đặc biệt là về lịch sử, về phong tục và tính cách mỗi dân tộc…) mà cuốn tiểu thuyết đó đã trình bày. Những tiểu thuyết lừng danh thế giới, như “Những người khốn khổ”, “Nhà thờ Đức Bà Paris” của V. Huygô, bộ “Tấn trò đời” của Ô. Bandắc (Pháp), “Chiến tranh và hòa bình”, “Anna Carênina” của L. Tônxtôi, “Sông Đông êm đềm”, “Đất vỡ hoang” của M. Sôlôkhốp (Nga), và bộ “tứ kỳ thư” của văn học Trung Quốc: “Thủy hử” – Thi Nại Am, “Tam quốc chí” – La Quán Trung, “Tây du ký” – Ngô Thừa Ân, “Hồng lâu mộng” – Tào Tuyết Cần… sở dĩ cuốn hút người đọc toàn thế giới xưa nay, một phần quan trọng là ở cái cuộc sống ngồn ngộn và cực kỳ sinh động, biến hóa, tức là ở giá trị “bách khoa toàn thư” của các tác phẩm bất hủ ấy.

Không ngừng nâng cao cái “Trí” – đọc nhiều sách báo, tư liệu, tích lũy vốn văn hóa, văn học; thâm nhập cuộc sống muôn màu muôn vẻ; bồi bổ trí tưởng tượng và rèn luyện thao tác bình luận (nhận xét, đánh giá về hiện thực khách quan) là một yêu cầu quan trọng để người viết văn sáng tạo được TPVH hay. Các nhà văn, nhất là những người viết trẻ, muốn trở thành nhà văn đích thực, không bao giờ được “thỏa mãn” với vốn tri thức, vốn văn hóa hiện có của mình. Lâu nay, việc tổ chức cho các nhà văn “đi thực tế”, cũng như sự tự giác tích lũy cái “Trí” của nhiều người viết văn – là điều vô cùng cần thiết, có rất nhiều ý nghĩa đối với sáng tác văn học. Không ít người có một, hai tác phẩm, rồi không viết được nữa, bởi không còn vốn hiểu biết, vốn sống, cái “Trí” đã cạn kiệt. Điều đó, thật là đau khổ và đáng hổ thẹn đối với người cầm bút.

4. Nhà văn phải tiếp thụ được truyền thống văn hóa dân tộc

Chữ “T” thứ tư, để nhà văn có thể sáng tạo được TPVH hay, là nhà văn phải “Tiếp thụ được truyền thống văn hóa dân tộc”. Trong truyền thống văn hóa dân tộc, thì yếu tố cơ bản nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến sáng tác của nhà văn, là truyền thống văn học dân tộc.

“Văn hóa dân tộc” là một khái niệm rộng, bao gồm tất cả những giá trị vật chất và tinh thần được tạo ra trong quá trình hình thành và phát triển của một dân tộc. Văn hóa dân tộc là kho tri thức tinh túy và phong phú về tự nhiên và xã hội, về đất nước và con người, kết tụ lại trong lịch sử của một dân tộc; trong đó quan trọng nhất, là ngôn ngữ, lịch sử, văn học, triết học, giáo dục, phong tục tập quán, nếp sống, tâm lý, tính cách, đạo lý của một dân tộc. Nói cách khác, văn hóa dân tộc là linh hồn, là đặc trưng hồn cốt để khẳng định giá trị, tầm vóc, những nét bản sắc của một dân tộc, để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Đối với nhà văn, sự hiểu biết, tiếp thụ truyền thống văn hóa dân tộc – mà cốt lõi là truyền thống văn học dân tộc – là một điều kiện hàng đầu, rất quan trọng và cần thiết cho công việc sáng tác…

Văn học Việt Nam (VHVN) có truyền thống đặc sắc qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước cực kỳ gian nan, dữ dội và anh dũng. Từ văn học dân gian của các dân tộc anh em đến văn học viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và một vài ngôn ngữ khác đã có những thành tựu đáng ghi nhận. Sự đa dạng về thể loại văn học, sự phong phú về nội dung, về tư tưởng chủ đề – bao trùm là tinh thần yêu nước, kiên cường chống ngoại xâm, nếp sống cần cù và giản dị, lòng nhân nghĩa, đức tính khiêm nhường, thủy chung… đã được thể hiện đậm nét qua các TPVH ở các thời kỳ, các giai đoạn, các khuynh hướng sáng tác, các trào lưu văn học từ xưa cho đến nay. Những tên tuổi đặc biệt của VHVN như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là những ngôi sao văn học sáng chói nhất, đã được thế giới đánh giá cao. Nhiều tác gia, tác phẩm VHVN, nhất là ở thời kỳ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, rất xứng đáng để các thế hệ bạn đọc và những người cầm bút nước nhà tự hào; trong đó có một số tác phẩm được thế giới biết đến và đã khẳng định được một số phong cách sáng tác (thuật ngữ chỉ cá tính sáng tạo đặc sắc của những nhà văn có tên tuổi).

Từ khi sử dụng chữ Quốc ngữ, VHVN có lợi thế rất lớn trong việc phản ánh chân thực và sinh động hiện thực muôn màu nghìn vẻ của đời sống. Tiếng Việt “rất giầu và rất đẹp” (chữ dùng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng), với tính uyển chuyển, hàm súc và biến hóa linh hoạt, có thể diễn tả một cách có nghệ thuật cái hiện thực khách quan sôi động, những cảm nhận tinh tế, biểu đạt được thế giới nội tâm phong phú, bay bổng và sâu sắc của con người Việt Nam ta.

Cũng như văn hóa các dân tộc trên thế giới, văn hóa dân tộc Việt Nam có sự giao thoa với một số nền văn hóa của các quốc gia khác, nhất là chịu ảnh hưởng của văn hóa, văn học Trung Quốc và Pháp, Nga, đồng thời tiếp thụ những tinh hoa của các nền văn hóa, văn học này, bồi bổ thêm giá trị cho nền văn hóa, văn học của nước nhà. Chẳng hạn, tiếp thụ thơ Đường, thơ Tống (Trung Quốc), ta có thể thơ thất ngôn (tứ tuyệt và bát cú), nhưng có cách ngắt nhịp riêng (thường không theo 4/3), có khi lại “cài” vào câu “lục ngôn” (6 chữ/dòng); đặc biệt là sáng tạo nên thể thơ song thất lục bát. Tiếp thụ thơ ca Pháp thế kỷ XVIII, XIX, XX, ta có “Thơ Mới” và thơ hiện đại, phóng khoáng và đầy sức hấp dẫn. Tiếp thụ thơ Nga, ta có thể thơ, câu thơ “bậc thang”. Truyện ngắn và tiểu thuyết của ta chủ yếu là sự tiếp thụ về mặt thể loại của văn học Pháp và châu Âu. Riêng thơ lục bát là thể thơ đặc biệt Việt Nam.

Tuy nhiên, văn hóa và VHVN có những điểm yếu, cần được nhìn nhận và đánh giá một cách trung thực. VHVN từ xưa đến nay chưa có những kiệt tác văn chương, những tác phẩm đồ sộ mang tầm cỡ thế giới, tầm cỡ nhân loại, như các nền văn học Anh (tiêu biểu là văn học thời Phục hưng), Pháp, Mỹ, Nga, chưa có những “đại kỳ thư” như của văn học Trung Quốc, quá hiếm hoi tác giả có tầm thế giới. Các TPVH có giá trị, từ thế kỷ XX đến nay, thường thuộc loại thể tự sự, chủ yếu là truyện ngắn; còn tiểu thuyết (truyện dài) thường ở mức nhạt nhòa hoặc “thường thường bậc trung”, quy mô nhỏ và chưa có những bộ tiểu thuyết (nhiều tập) có giá trị. Lý luận văn học hầu như chưa có gì đáng kể, phê bình văn học yếu kém, vụn vặt. VHVN đương đại chưa có tác phẩm xứng đáng với những chiến công vệ quốc oai hùng của dân tộc ta. Về tâm lý và tính cách dân tộc, người Việt Nam ta thường có “tâm lý đám đông”, lối sống “tự do” tản mạn tiểu nông, tầm nhìn hạn hẹp, yếu kém về tính trung thực, lòng tự trọng và tính cộng đồng – đặc biệt là trong thời bình và khi có nền kinh tế thị trường sơ khai. Với truyền thống văn hóa, văn học nêu trên, nhà văn ta chịu nhiều ảnh hưởng và cũng có những “thiệt thòi”!

Truyền thống văn hóa, văn học dân tộc (của dân tộc nào cũng vậy) không phải nhất thành bất biến. Nó luôn luôn vận động, biến hóa, bồi bổ hoặc mất đi một số yếu tố, một số mặt nào đó, theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Song, nhà văn – với tư cách “Thư ký trung thành của thời đại” (Lời Bandắc), luôn luôn phấn đấu cho cái Chân – Thiện – Mỹ, bao giờ cũng đón nhận những tinh túy của văn hóa, văn học dân tộc mình, đồng thời tiếp thụ tinh hoa văn hóa, văn học của thế giới văn minh, để bồi đắp làm thành vốn văn hóa độc đáo của riêng mình. Được như vậy, nhà văn mới có cái “nền”, cái “bệ phóng”, cái “phông” văn hóa vững chắc, từ đó mà cùng với các yếu tố khác (các chữ trong “5 T”) mới có thể sáng tạo được TPVH hay.

5. Vấn đề “Tự do sáng tác” của nhà văn

Tự do sáng tác của nhà văn phải được hiểu theo 2 khía cạnh: Tính khoa học (của nguyên lý Lý luận văn học) và tinh thần dân chủ. Nói cách khác: Tự do sáng tác nằm trong quy luật của sáng tạo văn học; nó là một điều tất yếu của sáng tác văn học xưa nay.

Nhà văn khi sáng tác, thì vừa là một nghệ sĩ, nhà nhân văn chủ nghĩa, vừa là một nhà khoa học, nhà giáo dục. Hội tụ trong mình những nhân cách ấy, nhà văn dùng khả năng hư cấu, trí tưởng tượng và ngôn ngữ nghệ thuật để xây dựng các hình tượng thẩm mỹ, biểu lộ “cái tôi”, lòng thiết tha với nhân dân, với cuộc đời, nhằm phản ánh chân thực hiện thực khách quan, khám phá, phát hiện những hiện tượng và những “vấn đề” nóng hổi của đời sống, và có thể dự báo sự biến chuyển của hiện thực trong tương lai. Với sự “tổng hợp” đặc biệt ấy, vai trò cá nhân và tính sáng tạo cá nhân là đặc thù hoạt động của nhà văn. Do đó, tự do sáng tác đối với nhà văn là điều không thể thiếu.

Vấn đề “tự do sáng tác” của nhà văn nảy sinh từ lâu trong VHVN. Sau hòa bình lập lại ở miền Bắc (7/1954), hiện tượng Nhân văn – Giai phẩm và sự đánh giá của cơ quan nhà nước quản lý văn nghệ đối với Nhân văn – Giai phẩm đã bộc lộ vấn đề “tự do sáng tác” của nhà văn. Sáng tác văn học nước ta từ cuối năm 1957 đến cuối năm 1986 diễn ra cầm chừng. Cho đến Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986), công cuộc “Đổi mới” được khai sinh, mở ra chân trời sáng láng cho đất nước. Bộ Chính trị Trung ương Đảng (Khóa VI) thông qua Nghị quyết 5, cho phép văn nghệ sĩ tự do sáng tạo. Không phải không có lý, khi Nghị quyết này được gọi là nghị quyết “cởi trói” cho các nhà văn! Từ đây, một số TPVH trước đó bị coi là “có vấn đề”, đã được tái bản; và một số văn nghệ sĩ của nhóm Nhân văn – Giai phẩm được phục hồi danh dự. Một số người đến nửa cuối thập niên 90 của thế kỷ XX đã được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh hoặc Giải thưởng Nhà nước về VHNT, như Văn Cao, Trần Đức Thảo, Trần Dần, Lê Đạt… Trên tờ Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) hồi ấy đăng nhiều sáng tác của các nhà văn, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật”, trong đó có những tên tuổi: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Trần Huy Quang, Phùng Gia Lộc, Bảo Ninh, Lê Lựu… Tuy nhiên, đến cuối năm 1988, xu hướng “cởi mở” trong văn học – nghệ thuật có biểu hiện “quá đà”.

Phải chăng đã có sự đánh giá quá xét nét và sự suy diễn, quy chụp khi những tác phẩm: Con nai đen (Nguyễn Đình Thi), Văn Ngan tướng công (Vũ Tú Nam), Vòng trắng (Phạm Tiến Duật), Sẹo đất (Ngô Văn Phú), Cây táo ông Lành (Hoàng Cát), Cái đêm hôm ấy, đêm gì (Phùng Gia Lộc)… bị coi là “có vấn đề”, bị cấm? Những chuyện đại loại như thế, không phải là hiếm. Điều đó ảnh hưởng rất không tốt, hay nói cách khác, là hạn chế tự do sáng tác của nhà văn, làm giảm chất lượng của nhiều tác phẩm. Bởi nhà văn phải e ngại, dè chừng trong sáng tác, nhiều khi không biểu lộ được “cái tôi” đích thực của mình. Chỉ nêu ra đây tâm sự của Đỗ Chu – một nhà văn có tên tuổi. Ông nói: “Hình như tôi vẫn giấu tôi, mà đấy chính là cái nhà văn phải viết… Nhưng theo tôi, khi trang viết là hết sức, là thật nhất đối với mình, là dám nói nhiều điều mà trước đấy do kiêng kỵ, gượng nhẹ (mà) mình chưa dám. Tóm lại, đã dốc tuột lòng mình, một sự thật nào đó của mình, bấy giờ sẽ có những trang viết của một nhà văn… Khi nào còn e ngại, phân vân, còn phải “chiếu cố” đến một điều gì, lúc đó anh không phải là một nhà văn. Ở nước nào không biết, chứ ở nước ta thì đôi khi nhà văn chỉ trên từng dòng, từng đoạn. Có khi ở đoạn trước là nhà văn, đoạn sau lại chưa phải, hoặc không còn là nhà văn nữa”. Và Đỗ Chu bộc bạch: “Cũng thấy tiếc những năm tháng vừa rồi, giá viết nó căng hơn một chút thì chất lượng những trang sách nó sẽ nhiều hơn; nhưng khốn nỗi lại phải gượng nhẹ, người ta gọi như thế là ý thức công dân, ý thức cán bộ… Nhiều cái làm cho mình không là nhà văn lắm đâu” (Báo An ninh Thế giới cuối tháng, số 26, tháng 10/2003, trang 15).

Văn học Việt Nam hiện nay chưa có những tác phẩm xứng tầm với dân tộc và thời đại, rất hiếm hoi tác phẩm và nhà văn được thế giới biết đến, bởi nhiều nguyên nhân (trong “5 T”), trong đó có vấn đề “Tự do sáng tác của nhà văn”.

Thật ra, tinh thần dân chủ, vấn đề tự do tư tưởng, tự do ngôn luận đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra từ lâu và được Hiến pháp nước ta (qua các thời kỳ) xác định. Các văn kiện của Đảng cũng ghi nhận vấn đề lớn lao này. Đặc biệt, Báo cáo Chính trị của Đại hội Đảng (Khóa XI) nêu rõ: “Phát triển, nâng cao chất lượng sáng tạo văn học – nghệ thuật; khẳng định và biểu dương các giá trị chân, thiện, mỹ; phê phán những cái lỗi thời, thấp kém, đấu tranh chống những biểu hiện phi văn hóa, phản văn hóa. Đảm bảo quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân”. Đến Đại hội Đảng XII (1/2016), Báo cáo Chính trị lại nêu rõ: “Phát triển sự nghiệp văn học – nghệ thuật, tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ”; và: “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng vừa bảo đảm để văn hóa, văn học – nghệ thuật, báo chí phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân với mục đích đúng đắn; khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân chủ, hạn chế tự do sáng tạo”. Sau Đại hội Đảng XII, tinh thần dân chủ, sự khuyến khích phản biện xã hội càng được Đảng đề cao. Đấy là những dấu hiệu tốt để các nhà văn tự do sáng tạo phục vụ đất nước và nhân dân của mình.

Không có hoặc thiếu tự do sáng tác thật sự, thì không thể sáng tạo được TPVH có giá trị, có chất lượng cao. Cố nhiên, “tự do sáng tác” phải nằm trong quy định của pháp luật – khi pháp luật đó phải thật sự khoa học, hoàn chỉnh và cập nhật với thực tiễn, được nhân dân đồng tình.

Đào Ngọc Đệ
(Giảng viên Đại học Hải Phòng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 400

Ý Kiến bạn đọc