Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

100 năm chữ Quốc ngữ vẫn còn tồn nghi?

 

“… Những tranh cãi về chữ Quốc ngữ chưa bao giờ ngớt” (Mai Thụy. Tuổi trẻ, ngày 22-12-2019). Điều đó là không tránh khỏi, bởi mới chỉ trong một tuần, từ 21-12- 2019 ở Hội thảo 100 năm chữ Quốc ngữ tại TP. Hồ Chí Minh do Hội Ngôn ngữ học TP.HCM tổ chức, đến 28-12-2019 ở Hội thảo 100 năm chữ Quốc ngữ ở Việt Nam do Hội Khoa học – Lịch sử TP. Đà Nẵng tổ chức, đã rất “ông chẳng bà chuộc”, huống gì 100 năm hay 400 năm. Ngay tham luận của GS. Roland Jacque – nhà ngôn ngữ học Canada gốc Pháp – ở hai Hội thảo lại khác nhau một cách đáng nghi ngờ. Hay phát biểu của GS. Trần Chút, rằng “chính nhân dân Việt Nam tự nguyện chọn chữ Quốc ngữ…” (Tuổi trẻ. Bđd. 22-12-2019). Rồi lời tường thuật ở Hội thảo Đà Nẵng, rằng có phải Đạo dụ số 123, ngày 28-12-1918 của Khải Định đã “thay đổi lịch sử đất nước” (Thanh niên. 29-12-2019)… Nghĩa là những cái nhìn kiểu “vin cành bẻ lá” mà lẩn tránh những vấn đề cơ bản nhất của lịch sử chữ Quốc ngữ ở Việt Nam.

Theo lược ghi của Th.S Phan Thế Hoài về phát biểu của ông Roland Jacque ở Hội thảo ngày 21-12-2019, đăng tải trên trang mạng GDVN ngay sau Hội thảo cho đến các ngày 25, 26-12-2019, thì có nhiều điều cần phải nói lại. Vì ông Roland Jacque cho rằng Tiếng Việt vào đầu thế kỷ XVII mới chỉ là phương ngữ dân làng, không có khả năng mang văn hóa… mọi sự phải mượn tiếng Trung Hoa. Rằng các nhà tiên phong người châu Âu như Francisco de Pina hay Alexandre de Rhodes muốn trả lại địa vị cao quý cho tiếng Việt… Rằng sau Pigneaux de Béhaine thì chữ Quốc ngữ không còn do người châu Âu kiểm soát mà độc quyền chữ Quốc ngữ đã chuyển sang những người An Nam trẻ như Huỳnh Tịnh Của… Đến Hội thảo Đà Nẵng hôm 28-12-2019, thì ông Roland Jacque đã thay đổi nhận thức, rằng “… những bộ từ điển từ Francisco de Pina đến Pigneaux không đề cập đến công lao của người Việt”. Đó là một thiếu sót. Nhưng ông không nói rõ những người Việt cụ thể ở đây là ai. Rồi GS. Nguyễn Đăng Hưng (Đại học Liege – Bỉ), thì té nước theo mưa rằng: “… Khải Định không phải là một minh quân trong lịch sử, nhưng quyết định của ông đã giúp chữ Quốc ngữ thành công tại Việt Nam… Bởi vì sau chữ Quốc ngữ, toàn dân tộc Việt Nam biết đọc, biết viết. Trước đó thì chỉ khoảng 3% biết đọc biết viết chữ Hán”. Còn Th.S Đào Tiến Thi (NXB Giáo dục) lại cho rằng, chữ Quốc ngữ thành công thì phải từ Đông Kinh Nghĩa Thục – 1908.

Nếu nói là thành công thì các Hội thảo đều đã thành công ở chỗ đưa ra nhiều ý kiến trái chiều, khác nhau mà chưa được chứng minh. Hoặc thành công lớn nhất ở Hội thảo TP.HCM là khẳng định không nên cải tiến, đổi mới, thay đổi chữ Quốc ngữ. Như GS. Đinh Văn Đức (Đại học KHXH & NV Hà Nội), thì chữ Quốc ngữ đã ổn định hàng trăm năm nay. Chữ viết là vấn đề văn hóa. Mà văn hóa thì có tính ổn định. Sở dĩ chúng tôi nói các ý kiến ở hai Hội thảo trên (trừ các GS. Đinh Văn Đức, Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Văn Hiệp…) đều lẩn tránh vấn đề cơ bản nhất của lịch sử chữ Quốc ngữ, ở chỗ tách rời chữ Quốc ngữ ra khỏi lịch sử chính trị – văn hóa Việt Nam. Ở đây, trong khuôn khổ bài báo, chúng tôi chỉ nêu vấn đề ở phát biểu của các GS: Roland Jacque, Trần Chút và Nguyễn Đăng Hưng.

Với GS. Roland Jacque: Ông đem đến các Hội thảo một số tư liệu về chữ Quốc ngữ mà ông sưu tầm được ở Thư viện Tòa thánh Vatican. Rất cảm ơn ông. Nhưng ông chưa hiểu hay cố tình chưa hiểu lịch sử văn hóa Việt Nam.

Việt Nam là một dân tộc rất bất hạnh trong quá khứ. Ngay từ đầu đã bị xâm lược. Kẻ thù xâm lược ép buộc người Việt phải dùng chữ viết của họ. Hồi đầu Công nguyên là chữ Hán. Đến sau này là chữ Quốc ngữ. May thay dân tộc Việt Nam không chịu khuất phục. Buộc phải dùng chữ Hán nhưng người Việt vẫn giữ tiếng nói của mình. Chữ Hán được Việt hóa bằng cách đọc Hán – Việt. Một người Hoa nếu không biết tiếng Việt chỉ có thể bút đàm bằng chữ Hán mà không thể đàm thoại. Đây là đặc điểm cực kỳ quan trọng và quý giá của văn hóa Việt Nam. Chính nhờ đó mà truyền thống lịch sử – văn hóa, hồn cốt dân tộc được lưu giữ, truyền lại từ đời này sang đời kia. Còn chữ viết, chữ Hán hay chữ Quốc ngữ, là ghi lại nội dung tiếng nói của người Việt. Không hiểu đặc điểm này, làm sao ông Roland Jacque có thể tiếp cận được Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi, viết bằng chữ Hán, thế kỷ XV. Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, viết bằng chữ Quốc ngữ, thế kỷ XX. Cho nên, ở Việt Nam, tiếng nói và chữ viết không phải bao giờ cũng đồng nhất vào khái niệm Tiếng Việt. Chữ Hán vào Việt Nam ít ra là từ đầu Công nguyên, thời nhà Hán, với Sĩ Nhiếp, và bị bức tử vào ngày 28-12-1918 do Đạo dụ số 123 của Khải Định. Tại sao vua Khải Định lại từ bỏ thứ chữ viết mà tổ tông ông ta xem là chữ Thánh Hiền, từ khi vua Gia Long lên ngôi (1802) hay xa xưa hơn, khi chúa Nguyễn Hoàng kinh dinh phần đất phía Nam (1500), đã là văn tự chính thức của nhà chúa, của quốc gia. Nên định công hài tội cho Khải Định như thế nào đây?

So-580--Anh-minh-hoa---100-nam-chu-Quoc-ngu-van-ton-nghi---Anh-1

Cũng không có chuyện các nhà truyền đạo tiên phong vào Việt Nam muốn trả lại địa vị cao quý cho Tiếng Việt. Hoang đường thế. Xin ông Roland Jacque đưa ra những cứ liệu. Còn chúng tôi thì thấy rất rõ rằng chữ Quốc ngữ là công cụ truyền giáo với mục đích đưa người Việt Nam vào quỹ đạo văn hóa Ki-tô giáo, rời bỏ văn hóa truyền thống Nho giáo đã có hàng ngàn năm lịch sử. Nhưng từ mục đích đến hiện thực là lịch sử hiện thực mà ông Roland Jacque thấy rõ ở ngày hôm nay, từ hai Hội thảo mà ông tham dự. Người Việt có câu Không vẽ rắn thêm chân. Họ cũng có câu Uống nước nhớ nguồn và cũng nhớ câu Vật có đầu có cuối, việc có trước có sau. Công lao của các ông De Pina hay De Rhodes thì cần ghi nhận nhưng không thể xếp ngang với Hàn Thuyên Tôm ra tôm cá ra cá. Không phải lúc nào và cái gì cũng gọi chung là tôm tép được!

Chữ Quốc ngữ trong tay người Pháp thì phải nói dài mà cũng có thể nói ngắn. Dài là từ ý đồ đồng hóa người Việt Nam theo văn hóa Pháp mà Trương Vĩnh Ký là người “tiên phong” thực hiện chủ trương này. Nhưng đồng hóa người Việt theo văn hóa Pháp là công việc khó như Ngu Công dời núi. Buộc người Việt Nam phải nói và viết bằng tiếng Pháp chữ Pháp là không thể và có chỗ phản tác dụng. Phạm Quỳnh đã nhận ra sự “khúc mắc” này. Nếu buộc người Việt theo hẳn tiếng Pháp thì chỉ có thể sản sinh ra một tầng lớp “Tây giả cầy”. Tây không ra Tây mà Việt thì mất gốc. Nên chi dạy quốc văn – chữ Quốc ngữ – cho người Việt ở bậc Tiểu học. Lên Trung học thì lại dùng toàn tiếng Pháp. Để có một lớp người truyền bá được những điều học được từ sách Pháp cho dân chúng, bằng chữ Quốc ngữ. Tính nửa vời của người Pháp về chữ Quốc ngữ là như thế. Còn nói gọn lại, là không phải người Pháp bức tử chữ Hán, mà là vua An Nam, bằng Đạo dụ của Khải Định. Nếu từ bỏ chữ Hán, là cắt được mối liên hệ của trí thức Việt Nam với nền Nho học. Mà Nho học vào thời đó, gắn với Khang – Lương và Tân thư là ảnh hưởng của người Đức vào Đông Nam Á. Cắt được Nho học là cắt được mối liên hệ này. Xem các văn bản của Phủ Toàn quyền Đông Dương và Bộ Thuộc địa Pháp về Nam Phong tạp chí thì thấy rõ vấn đề này. Luận chiến văn chương Q.V, NXB Văn học – 2019, in lại đầy đủ các văn bản này.

Chúng tôi muốn có lời với GS. Trần Chút khi ông cho rằng “… chính nhân dân Việt Nam đã tự nguyện chọn chữ Quốc ngữ làm chữ viết tiếng Việt hoàn toàn không có sự ép buộc nào” (Tuổi trẻ. 22-12-2019).

Giáo sư nằm mơ ra chuyện đó. Lịch sử không có như thế. Các nhà truyền giáo đã chọn chữ Quốc ngữ hay sáng chế ra, hay đặt ra chữ Quốc ngữ để truyền giảng cho người Việt Nam theo đạo. Đâu phải người Việt Nam hay các giáo dân được quyền lựa chọn. Muốn chọn thì ít ra phải biết đó là cái gì giữa những cái gì mới chọn được chứ. Ai tự nguyện chọn “Phép giảng 8 ngày”? Đức Alexandre de Rhodes hay các giáo dân người Việt? Chúng tôi thừa nhận Alexandre de Rhodes là nhà hùng biện. Chỉ mấy ngày vào tránh bão ở Lạch Bạng, Tĩnh Gia, Thanh Hóa, mà ông thuyết phục được dân chúng theo đạo. Đến mức ba làng ở cạnh nhau đều dựng nhà thờ. Nay vẫn gọi là Nhà thờ Ba Làng. Năm 1993, ở xứ đạo này tổ chức lễ lớn kỷ niệm 360 năm ngày Đức Alexandre de Rhodes tới truyền đạo, lập nhà thờ. Con chiên khắp nơi kéo về dự, vì sẽ được Ân Toàn Xá. Đó là chuyến Alexandre de Rhodes từ Nam kỳ ra Bắc kỳ, gặp bão, ghé vào Lạch Bạng. Theo truyền thuyết của dân sở tại. Năm đó – 1993 – chúng tôi cùng nhà văn Triệu Bôn, nhà báo Nguyễn San, Nguyễn Chính và các thành viên Hội đồng hương Văn nghệ Thanh Hóa tại Hà Nội, về thăm quê hương và đi thực tế sáng tác, được chứng kiến lễ lớn này. Các tài liệu của nhà sử học Nguyễn Đình Tư về Buổi đầu của chế độ thuộc địa ở Nam kỳ và nhiều tài liệu khác, chứng tỏ giấc mơ ngọt ngào của GS. Trần Chút.

Cũng là một giấc mơ nữa, của GS. Nguyễn Đăng Hưng, khi ông cho rằng “… sau chữ Quốc ngữ, toàn dân tộc Việt Nam biết đọc, biết viết. Trước đó thì chỉ khoảng 3% biết đọc, biết viết chữ Hán” (Thanh niên, 29-12-2019).

“Sau chữ Quốc ngữ…”. Hay lắm! Co giãn lắm! Chắc chắn là GS. Nguyễn Đăng Hưng không biết tới ba nhiệm vụ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra cho Chính quyền Cách mạng sau khi nước nhà độc lập nhưng thực dân Pháp “muốn cướp nước ta một lần nữa”. Đó là phải diệt giặc ngoại xâm, diệt giặc đói và diệt giặc dốt. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Giáo sư có đồng ý như thế không? Toàn dân tộc Việt Nam biết đọc biết viết là từ đâu, nhờ đâu, thưa Giáo sư.

Chữ viết là công cụ hàng đầu của văn hóa. Nhưng dù quan trọng đến đâu nó vẫn là công cụ. Vấn đề quyết định là ở người sử dụng công cụ. Và người sử dụng bao giờ cũng có mục đích của họ. Nếu chỉ nói đến công cụ mà lẩn tránh con người sử dụng công cụ thì không còn gì là lịch sử. Hội thảo, tranh luận tạo dư luận nhằm tôn vinh những người có công đầu với chữ Quốc ngữ nhưng lại lẩn tránh lịch sử mà chữ Quốc ngữ được sử dụng theo những mục đích khác nhau chính là nguyên nhân làm cho vấn đề rất sáng rõ trở nên phức tạp. Một việc nhỏ như tấm bia tưởng niệm Alexandre de Rhodes ở đền Bà Kiệu đối diện với đền Ngọc Sơn – Hà Nội, là một ví dụ. Nhiều người vẫn thắc mắc rằng tấm bia đó bây giờ ở đâu? Sao lại vô ơn đối với người có công hoàn thiện chữ Quốc ngữ như thế? Theo cụ Bạch Diện Nguyễn Văn Cư – thân phụ của nhà văn Bích Thuận – thì tấm bia đó do người Pháp dựng vào năm 1940, khi Nhật vào Đông Dương, để chứng tỏ người Việt Nam vẫn gắn bó với người Pháp. Mục đích của việc dựng tấm bia này là để ngăn cản làn sóng Đại Đông Á của người Pháp. Chúng tôi thấy luận điểm này là có cơ sở (Xin xem Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. Hà Nội Xưa và Nay, NXB Hội Nhà văn. H.2015).

Chúng tôi đã nhiều lần đề nghị nên xem chữ Quốc ngữ cũng như chữ Hán. Những giá trị lịch sử – văn hóa mà chữ Hán hay chữ Quốc ngữ ghi lại, định hình lại bằng văn bản như Cáo Bình Ngô, Tuyên ngôn Độc lập… như đã nói trên đều phải được trân trọng như nhau. Người sáng tạo, phát minh ra công cụ cho nhân loại phải được ghi nhận, tôn vinh và những người làm nên lịch sử bằng công cụ đó cũng phải được tôn vinh. Và ở đây, thực tiễn lịch sử, tính chất của lịch sử mới là cơ sở để minh định con người và hành động và kết quả của hành động lịch sử đó.

Từ phát minh của Nobel đến Giải Nobel và diễn tiến của Giải Nobel… là một trong những ví dụ để xem xét công cụ và tính mục đích của công cụ.

Chúng tôi đã và sẽ vẫn kiến nghị cần có một Bảo tàng chữ Quốc ngữ hoặc một Bảo tàng ngôn ngữ học Việt Nam để dựng lại lịch sử của chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Nếu có một Bảo tàng như thế thì chắc chắn không còn kiểu nói lấy được như GS. Nguyễn Đăng Hưng và cũng không phải vất vả tìm nơi dựng tượng và đặt tên đường cho Francisco de Pina hay Alexandre de Rhodes. Vì họ đã có một vị trí xứng đáng trong Bảo tàng này.

Mùa Giáng sinh 2019

Nguyễn Ngọc Quang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 580

Ý Kiến bạn đọc