Trong nước

10 nhân vật lịch sử Việt Nam có tuổi Tý được đặt tên đường ở TP. Hồ Chí Minh

 

Ở TP. Hồ Chí Minh có những con đường được mang tên của các nhân vật lịch sử nổi tiếng của Việt Nam nhưng đa số những người thuộc thế hệ 8X, 9X đều không biết họ là ai. Thí dụ như: Nguyễn Xí (quận Bình Thạnh); Phùng Khắc Khoan (Q.1); Phạm Công Trứ (Q.1); Phạm Đình Hổ (Q.6); Hoàng Diệu (Q.4); Nguyễn Trường Tộ (Q.4); Huỳnh Thúc Kháng (Q.1); Nguyễn Văn Cừ (Q.5); Phạm Hùng (Q.8); Tôn Thất Tùng (Q.1).

Điều đặc biệt là các nhân vật này đều có tuổi Tý giống nhau.

Nguyễn Xí (Bính Tý, 1396-1464)

Xuan2020--10-nhan-vat-lich-su-Viet-NAm-co-tuoi-Ty-duoc-dat-ten-duong-o-TPHCM---Anh-11

Danh tướng đời Lê Thái Tổ, gốc quê làng Thượng Phúc, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Sau lên đất Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia nghĩa quân Lam Sơn làm gia thần Lê Lợi. Sau khi Lê Lợi lên ngôi vua, ông được ban họ Lê vì có công lớn trong cuộc kháng Minh.

Năm Đinh Mùi 1427, ông cùng Đinh Lễ đem quân đánh tan trận phản công của Vương Thông phía Nam thành Đông Quan khiến lực lượng quân Minh ngày càng suy giảm dần. Trong năm này, Nguyễn Xí được lệnh Lê Lợi đem đại quân Thiết Đột đến đuổi giặc ở Mi Động và chẳng may ông bị giặc bắt. Nhân lúc đang đêm mưa gió, ông dùng mẹo đánh lừa quân giữ thành trốn thoát được về ra mắt thủ lĩnh Lê Lợi, rồi được cho cầm quân như cũ và ông là một trong các tướng chiếm thành Đông Quan.

Sau khi Lê Lợi lên ngôi, ông từng giữ các chức: Tham chính sự, Nhập nội đô đốc, được tặng thưởng biểu ngạch công thần, tước huyện hầu.

Ông mất năm 1464, hưởng thọ 68 tuổi. Nguyễn Xí là vị tướng tài từng phục vụ từ đời Lê Thái Tổ đến Lê Thánh Tông, đem lại nhiều thắng lợi trên hai mặt trận quân sự và chính trị.

Phùng Khắc Khoan (Mậu Tý, 1528-1613)

Xuan2020--10-nhan-vat-lich-su-Viet-NAm-co-tuoi-Ty-duoc-dat-ten-duong-o-TPHCM---Anh-12

Danh sĩ đời Lê Thế Tông, hiệu Nghi Trai, tự Hoằng Phu, quê xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây. Ông vốn cùng mẹ khác cha với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông nổi tiếng thơ văn, chí khí khảng khái, hào hùng. Năm 1550, đang lúc nhà Mạc áp đảo nhà Lê, ông theo Lê Bá Li vào Thanh Hóa phù tá Lê Trung Tông. Ông ra thi, đỗ đầu khoa thi Hương, được bổ làm Ngự doanh ký lục, coi sóc quân Tứ vệ góp sức chiêu dân vào Thanh Hóa lập nghiệp, được thăng chức Lễ khoa cấp sự trung.

Năm Canh Thìn 1580, ông đỗ Nhị giáp tiến sĩ, làm Đô cấp sự trung, một thời gian bị bãi chức, sau lại được triệu dụng phong Hồng lô tự khanh, rồi giữ chức Thị lang bộ Công.

Năm 1579, ông đi sứ nhà Minh. Với khí phách hào hùng, bảo tồn quốc thể, biện bác áp đảo quan lại cao cấp triều Minh, khiến vua Minh cũng phải chấp nhận những lý lẽ ông bênh vực cho nhà Lê. Vì thế ông được phong làm Thượng thư bộ Hộ, bộ Công, tước Mai Lĩnh Hầu, rồi thăng tước Mai Quận Công. Ông là người nhiệt tình xây dựng quê hương, quan tâm đến đời sống dân làng. Tương truyền ông là người đem nghề dệt lụa về cho dân Phùng Xá và đem giống ngô về vùng sông Đáy, tạo nên một nông sản mới tại đây.

Ông mất năm 1613, thọ 85 tuổi. Nhân dân làng Phùng Xá lập đền thờ ông.

Phạm Công Trứ (Canh Tý, 1600-1675)

Danh sĩ đời Lê Thần Tông, quê làng Liêm Xuyên, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương.

Năm Mậu Thìn 1628, ông đỗ đồng tiến sĩ, lúc 28 tuổi.

Buổi đầu ông làm Hiệu thảo Viện Hàn lâm, Thái thường tự khanh. Năm Mậu Ngọ 1642, ông ra làm Tán lí đạo Sơn Nam cùng với Thượng thư Nguyễn Duy Thể lo việc biên phòng. Do công dẹp an nhóm Trịnh Sầm nổi loạn, ông được vời về triều làm Phó đô ngự sử, tước Khánh Yến Bá, rồi thăng Đô ngự sử.

Năm Đinh Dậu 1657, ông làm Thượng thư bộ Lễ, tước Yên Quận Công, gia Thiếu bảo, kiêm Đại học sĩ Đông các. Sau ông coi sóc Quốc tử giám, rồi đổi làm Thượng thư bộ Lại (1662) và làm Tham tụng ở phủ chúa Trịnh.

Năm Mậu Thân 1668, ông về hưu, được phong Thái bảo, Quốc Lão. Năm 1673, triều đình lại vời ông ra làm Tể tướng, coi việc cả 6 Bộ. Đến Ất Mão 1675, ông mất, thọ 75 tuổi, truy tặng Thái tể, thụy Kinh Tế.

Ông có sáng tác văn học, nghiên cứu lịch sử. Khoảng năm 1665, ông cùng một nhóm danh sĩ khảo duyệt và tục biên bộ Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên. Bộ sử này ông có soạn thêm từ đời Lê Trang Tông – gồm cả sử nhà Mạc – đến hết đời Lê Thần Tông (1527 – 1662).

Phạm Đình Hổ (Mậu Tý, 1768-1839)

Xuan2020--10-nhan-vat-lich-su-Viet-NAm-co-tuoi-Ty-duoc-dat-ten-duong-o-TPHCM---Anh-13

Danh sĩ đời Minh Mạng, tự Tùng Niên, Bỉnh Trực, hiệu Đông Dã Triều. Con quan Tham tri Phạm Đình Dư, nên tục gọi là Chiêu Hổ, quê xã Đan Loan, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương.

Ông đọc rộng biết nhiều, nhưng thi không đỗ, lại gặp thời loạn nên muốn ở ẩn. Năm Tân Tỵ 1821, vua Minh Mạng vời ông ra và bổ làm Hành tẩu viện Hàn lâm, ít lâu ông từ chức.

Năm Bính Tuất 1826, Minh Mạng lại triệu và cho làm Thừa chỉ Viện Hàn lâm và Tế tửu Quốc tử giám, nhưng năm sau ông cũng xin nghỉ dưỡng bệnh rồi từ chức. Sau ông trở lại nhận chức vụ cũ, được thăng Thị giảng học sĩ, đến Nhâm Thìn 1832 ông về hưu luôn.

Năm Kỷ Hợi 1839, ông mất, thọ 71 tuổi.

Bình sinh ông cùng Hồ Xuân Hương thường làm thơ bỡn cợt, còn truyền làm giai thoại. Các tác phẩm chính của ông: Lê triều hội điển, Bang giao điển lệ, An Nam chí, Ai Lao sứ trình, Đạt Man quốc địa đồ (tức Chân Lạp địa đồ)…

Hoàng Diệu (Mậu Tý, 1828-1882)

Xuan2020--10-nhan-vat-lich-su-Viet-NAm-co-tuoi-Ty-duoc-dat-ten-duong-o-TPHCM---Anh-14

Chí sĩ yêu nước, tự Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, quê làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Trước vốn tên Hoàng
Kim Tích, sau mới đổi là Hoàng Diệu. Ông sinh ngày 10-2 năm Mậu Tý 1828, đỗ cử nhân khoa Mậu Thân 1848 và phó bảng khoa Quí Sửu 1853, lúc 25 tuổi.

Sơ bổ Tri huyện Tuy Phước (Bình Định), rồi thăng Tri phủ Tuy Viễn cũng trong tỉnh Bình Định. Sau đó ông phải giáng, đổi về Tri huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Ít lâu thăng Tri phủ Lạng Giang (Bắc Giang), Án sát Nam Định, rồi Bố chính Bắc Ninh. Ông nổi tiếng công minh và thanh liêm. Suốt 30 năm làm quan nhiều nơi, cảnh nhà vẫn thanh bạch.

Năm Đinh Sửu 1877, ông về Huế làm Tham tri bộ Hình, qua Tham tri bộ Lại, coi việc Đô sát và dự vào viện Cơ mật. Năm sau, làm Tuần vũ Quảng Nam, rồi Tổng đốc An Tịnh. Chẳng bao lâu ông được triều đình ủy nhiệm chức Phó toàn quyền Đại thần để hiệp thương với sứ bộ Y Pha Nho (Tây Ban Nha).

Canh Thìn 1880, ông làm Tổng đốc Hà Ninh, lãnh chức hàm Thượng thư bộ Binh, gồm coi cả việc thương chính.

Đầu năm Nhâm Ngọ 1882, đại tá Pháp Henri Rivière đem quân ra cướp miền Bắc. Ông chỉ huy quân sĩ quyết liệt đối phó. Trước hỏa lực của quân cướp nước, một số lãnh binh bỏ thành chạy, Hoàng Diệu vào hành cung, thảo tờ di biểu, rồi ra trước Võ miếu dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử lúc 54 tuổi.

Nguyễn Trường Tộ (Mậu Tý, 1828-1871)

Xuan2020--10-nhan-vat-lich-su-Viet-NAm-co-tuoi-Ty-duoc-dat-ten-duong-o-TPHCM---Anh-15

Chí sĩ, Danh sĩ, Kiến trúc sư, quê làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Gia đình ông theo đạo Thiên Chúa, cha mất sớm, ông theo học chữ Hán với cụ Tú Giai. Năm 1855, nhà thờ xứ Tân Ấp mời ông dạy chữ Hán, từ đó ông học chữ Pháp và Quốc ngữ với các giáo sĩ. Năm 1858, ông sang Pháp. Ba năm sau (1861), ông về nước. Người Pháp có ý dùng ông làm tay sai nhưng ông từ chối, quyết định ở ẩn nơi quê nhà. Ông lần lượt gửi lên triều đình nhiều bài điều trần giá trị, đề nghị chính quyền cải cách chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục…

Năm Tân Mùi 1871, ông mất lúc mới 43 tuổi.

Ông để lại hơn 14 bản trần tình khác về quốc kế dân sinh và khá nhiều bài thơ hay được truyền tụng.

Huỳnh Thúc Kháng (Bính Tý, 1876-1947)

Xuan2020--10-nhan-vat-lich-su-Viet-NAm-co-tuoi-Ty-duoc-dat-ten-duong-o-TPHCM---Anh-16

Chí sĩ, học giả, quê làng Thanh Bình, tổng Tiền Giang Phương, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Năm Canh Tý (1900), ông đỗ Giải Nguyên. Năm Giáp Thìn, đỗ Hoàng Giáp (năm 28 tuổi). Ông không ra làm quan, mà nhiệt thành lo việc nước, thương dân, kết bạn thâm tình với các chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp. Ông bị bắt năm Mậu Thân (1908), bị đầy Côn Đảo suốt 13 năm (1908-1921) mới được trả tự do. Ông là một trong những nhà lãnh đạo phong trào Duy Tân.

Tôn Đức Thắng (Mậu Tý, 1888-1980)

Xuan2020--10-nhan-vat-lich-su-Viet-NAm-co-tuoi-Ty-duoc-dat-ten-duong-o-TPHCM---Anh-17

Nhà cách mạng, sinh ngày 20-8-1888, quê xã Mỹ Hòa Hương, tổng Dinh Thành, tỉnh Long Xuyên (nay là xã Mỹ Hòa Hưng, TP. Long Xuyên, An Giang). Thuở nhỏ ông học ở quê nhà, năm 1906 lên Sài Gòn học nghề tại trường Bách Công rồi làm việc ở sở Ba Son.

Năm 1913, theo tàu biển sang Pháp làm công nhân ở TP. Toulon. Cuối năm 1919, ông bị trục xuất khỏi đất Pháp vì ủng hộ cách mạng Nga; năm 1917, trở về sống và làm công nhân ở Sài Gòn.

Những năm 1920-1925, ông tham gia lập Công hội bí mật ở xưởng đóng tàu Ba Son. Năm 1927, tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội. Cuối năm 1928, ông bị Pháp bắt nhân vụ án ở đường Barbier Sài Gòn, bị kết án 20 năm khổ sai lưu đày Côn Đảo. Đến ngày 23-9-1945, mới được trả tự do. Về đất liền, ông tiếp tục hoạt động đến tháng 10-1945 thì tham gia Xứ ủy Nam bộ rồi năm 1946 đắc cử vào Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Năm 1951, ông được bầu vào Ban Chấp hành TW Đảng Lao động Việt Nam. Tháng 7-1960, ông giữ chức Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời ngày 2-9-1969, đến ngày 23-9-1969 ông giữ chức Chủ tịch nước cho đến khi từ trần. Ngày 30-3-1980, ông mất tại Hà Nội, thọ 92 tuổi. Ông được Đảng, Chính phủ Việt Nam và các nước XHCN tặng nhiều huân chương cao quý.

Nguyễn Văn Cừ (Nhâm Tý, 1912-1941)

Xuan2020--10-nhan-vat-lich-su-Viet-NAm-co-tuoi-Ty-duoc-dat-ten-duong-o-TPHCM---Anh-18

Liệt sĩ cách mạng, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Sinh ngày 2-7-1912. Quê thôn Cẩm Giàng, xã Đồng Nguyên, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Năm 1927, lúc đang đi học tại trường Bưởi, Hà Nội, ông tham gia vào tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội. Do hoạt động bí mật, ông bị thực dân Pháp đuổi học. Tháng 6-1929, ông được kết nạp vào chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Hà Nội. Sau khi thành lập Đảng (3-2-1930), ông làm bí thư đầu tiên Đặc khu Hồng Gai, Uông Bí. Hoạt động ở đây được một thời gian, ông bị Pháp bắt, kết án khổ sai rồi đày ra Côn Đảo.

Năm 1936, ông được trả tự do về sống ở Hà Nội tiếp tục hoạt động bí mật. Tháng 9-1937, ông được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Năm 1938, ông được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình. Ngày 28-8-1941, ông bị thực dân Pháp xử bắn tại Bà Điểm, huyện Hóc Môn (nay là TP. Hồ Chí Minh). Tại pháp trường, ông đã kiên quyết xé tấm băng đen bịt mắt và hô lớn: “Cách mạng Đông Dương thành công muôn năm!”, rồi gục ngã xuống trước làn đạn địch. Ông hy sinh lúc 29 tuổi.

Phạm Hùng (Nhâm Tý, 1912-1988)

Xuan2020--10-nhan-vat-lich-su-Viet-NAm-co-tuoi-Ty-duoc-dat-ten-duong-o-TPHCM---Anh-19

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tên thật là Phạm Văn Thiện, sinh ngày 11-6-1912 tại xã Long Hồ, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long. Từ năm 1928-1929, ông là thành viên trong tổ chức “Nam kỳ học sinh Liên hiệp Hội” và “Thanh niên cộng sản Đoàn”. Năm 1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình, sau hạ thành án chung thân, khổ sai, đày đi Côn Đảo. Năm 1946, ông làm Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam bộ. Năm 1951, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sau đó được chỉ định làm Ủy viên Trung ương Cục miền Nam với chức vụ Phó bí thư, rồi làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính phân liên khu miền Đông Nam bộ năm 1952. Năm 1956, ông được bầu vào Ủy viên Bộ Chính trị. Năm 1957, ông làm Bộ trưởng.

Năm 1975, ông làm Chính ủy Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau, ông làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ (1980). Từ tháng 6-1987, ông làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Ngày 10-3-1988, ông mất đột ngột vì bệnh tim, thọ 76 tuổi. Ông được Nhà nước tặng nhiều danh hiệu cao quý trong đó có Huân chương Sao Vàng.

Tôn Thất Tùng (Nhâm Tý, 1912-1982)

Xuan2020--10-nhan-vat-lich-su-Viet-NAm-co-tuoi-Ty-duoc-dat-ten-duong-o-TPHCM---Anh-20

Bác sĩ y khoa, Anh hùng Lao động. Quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Thuở nhỏ, ông học ở Huế, Hà Nội, tốt nghiệp Y khoa bác sĩ, làm việc ở các bệnh viện Hà Nội. Sau cách mạng tháng 8-1945, ông được cử làm Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn, Hà Nội. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông làm cố vấn phẫu thuật ngành quân y ở Bộ Quốc phòng. Năm 1947, làm Thứ trưởng Bộ Y tế. Từ năm 1954, ông là Giám đốc Bệnh viện Việt Đức, Giáo sư tại trường Đại học Y khoa Hà Nội. Ông là Đại biểu Quốc hội nhiều khóa liên tục.

Do cống hiến của ông trong lĩnh vực y học, ông được Chính phủ Việt Nam tặng nhiều huân chương cao quý. Ngày 7-5-1982, ông mất tại Hà Nội, thọ 70 tuổi.

(Sưu tập)

Trân Quế – Nguyễn Tam
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM Xuân 2020

Ý Kiến bạn đọc